Nghe đài đọc báo thấy rau xanh bẩn, toàn thuốc sợ phát khiếp, ước gì cứ có rau nhà mà ăn nhỉ?
Thứ Ba, 8 tháng 1, 2008
Vườn rau nhà bà ngoại
Bà ngoại có mảnh vườn, trồng nhiều rau phết, bà bảo sợ ăn rau ngoài nên cố gắng chăm sóc vườn rau để có cái ăn. Năm nay bà trồng thêm súp lơ và cải bắp. Súp lơ thì ăn gần hết rồi chỉ có cái bắp là chưa được ăn vì giờ mới đang cuộn. Bà chăm bắt sâu và bướm lắm. Lúc nào rồi bà và Huy ra vườn, bà dặn Huy ngồi ở bậc thềm mà thấy bướm bay qua thì gọi bà. Chẳng biết Huy hiểu thế nào nhưng có thấy bướm là gọi thất thanh "bà, bà ơi..." rồi tay chỉ theo và nói "đây, đây...'. Có khi chẳng có con nào cũng gọi bà. Buồn cười lắm.
Nghe đài đọc báo thấy rau xanh bẩn, toàn thuốc sợ phát khiếp, ước gì cứ có rau nhà mà ăn nhỉ?


Nghe đài đọc báo thấy rau xanh bẩn, toàn thuốc sợ phát khiếp, ước gì cứ có rau nhà mà ăn nhỉ?
Thứ Hai, 7 tháng 1, 2008
Trẻ biếng ăn do… người lớn
5% số trẻ em lười bú ngay khi vừa sinh ra. Lên 2 tuổi, tỷ lệ biếng ăn lên đến 30-40%. Lỗi này không ai mà phần lớn do các bậc cha mẹ gây nên.
Những quan niệm sai lầm
Bé Phạm Thị Nam, Hà Nội, chào đời nặng tới 4kg. Thế nhưng, sau 4 tháng, bé chỉ nặng có 6kg và hai năm sau cũng chỉ nặng 8kg. Mẹ của bé, chị Lê Thị Ngọc, đã học mấy cua dạy về cách nấu ăn dặm cho trẻ nhưng tình hình không được cải thiện lắm.
Cuối cùng, chị Ngọc đã đưa con tới Viện dinh dưỡng khám với lý do chán ăn và còi cọc. Chị cho biết, vì lý do công việc, bé Nam bắt đầu ăn sữa ngoài, ăn dặm từ tháng thứ 4. Nhưng càng ngày cháu càng lười ăn. Mặc dù rất cẩn thận, bao nhiêu thức ăn bổ dưỡng, chị đều cho vào cháo cho con. Vậy mà mỗi bữa cháu ăn hơn 1 tiếng đồng hồ, với vài thìa cháo và ăn trong tiếng quát mắng hoặc dỗ dành.
Hãy cho trẻ những bữa ăn ngon và vui vẻ
Tình trạng như của bé Nam không phải là hiếm. Không ít cảnh mẹ bế con dọc tuyến phố, bà nội lếch thếch đi theo để đút từng thìa cháo, chỉ trỏ đến mỏi cả tay, khô cả miệng. Có gia đình còn thuê cả xích lô hoặc đưa trẻ lên xe buýt đi khắp các phố để dỗ trẻ ăn.
Bà Phan Thị Bích Nga, Phó Giám đốc TT Khám tư vấn Dinh Dưỡng cho biết, mỗi ngày TT khám cho khoảng 150 - 200 trẻ, trong đó loại trừ khoảng gần 10% trẻ béo phì, còn hầu hết là do biếng ăn và các chứng bệnh kèm theo như: suy dinh dưỡng, còi xương, rối loạn tiêu hoá, viêm đường hô hấp...
Theo bà Nga, trẻ biếng ăn khi ăn không đủ lượng yêu cầu của lứa tuổi, thời gian ăn kéo quá dài trên 30 phút.
Biếng ăn là triệu chứng của rất nhiều nguyên nhân. Nguyên nhân hay gặp nhất là do phương pháp chăm sóc không đúng của cha mẹ. Nhiều bà mẹ biến bữa ăn của trẻ thành cuộc chiến, trẻ bị ép ngồi gò bó, bị la, bị nhồi nhét dù không thấy đói...
Hơn nữa, cách chế biến chưa phù hợp cũng khiến trẻ không mặn mà với chuyện ăn uống. Nhiều phụ huynh cứ lặp lại mãi công thức cho cả khoai tây, xu hào, cà rốt, đậu xanh… trăm thứ bà rằn, những thứ được coi là bổ, cho tất vào nồi cháo và xay nhỏ. Chính họ còn không ăn được thứ hỗn hợp đó huống gì trẻ kén ăn.
Cũng không ít bà mẹ chỉ cho con ăn nước thịt, nước rau, mà bỏ bã dẫn đến trẻ bị thiếu các chất dinh dưỡng, chất xơ cần thiết, kích thích ăn uống.
Lại có gia đình cho trẻ tập ăn cơm khi trẻ mới 10-12 tháng. Về lý thuyết, chỉ khi trẻ hơn 2-3 tuổi, đủ răng mới có thể nhai tốt. Nếu cho ăn sớm quá, trẻ sẽ không ăn được nhiều, dẫn đến quen dạ, biếng ăn dần.
Bú mẹ giúp kích thích tiêu hóa
GS.TS Nguyễn Thu Nhạn, Chủ tịch Hội Nhi Khoa Việt Nam, nhấn mạnh, hiện nay trẻ biếng ăn nhiều một phần là do các bà mẹ nuôi con bằng sữa nhân tạo.
Các bà mẹ đã không biết rằng, nếu cho trẻ bú hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu đời và tiếp tục bú đến 2 tuổi, sữa mẹ sẽ giúp cho dạ dày bé to ra, đường tiêu hoá phát triển, giúp bé thèm ăn, trong khi sữa nhân tạo không kích thích sự phát triển này. Các nguyên nhân biếng ăn khác có thể điều trị bằng thuốc, xong nguyên nhân này không có thuốc gì điều trị được.
Ngoài ra, để giúp trẻ ăn ngon, ăn tốt hơn, các bà mẹ cần học cách chế biến và tạo bữa ăn vui vẻ.
Theo bà Nga, để chữa dứt điểm biếng ăn phải dựa vào nguyên nhân. Chẳng hạn, bé biếng ăn do thiếu máu phải điều trị thiếu máu. Biếng ăn do còi xương, tâm lý, nhiễm khuẩn... cũng phải điều trị khỏi, bé sẽ bớt biếng ăn.
Nhưng quan trọng hơn cả vẫn là cách chế biến bữa ăn. Các bà mẹ phải chú ý nấu cho trẻ cũng giống như nấu cho người lớn, phối hợp thức ăn cho phù hợp (thịt với rau không được trái nhau), tránh suốt ngày cho một vài vị cố hữu vào như xu hào, khoai tây...
Tuyệt đối không trộn ý dĩ, hạt sen, đậu xanh vào gạo để nấu cho trẻ. Thực tế, ý dĩ, hạt sen không có ý nghĩa về mặt dinh dưỡng thậm chí còn làm trẻ khó tiêu hoá. Đậu xanh là cách ăn của thời bao cấp, chỉ khuyến khích ở các vùng nghèo.
Bữa ăn của trẻ rất cần chất đạm, đặc biệt là đạm động vật. Chất đạm cho bé hàng ngày là 1g cho mỗi kg cân nặng (tối đa là 1,5g). Trẻ cần ăn đạm động vật, thịt trứng, rau, cua, cá thay cho đạm thực vật.
Nếu cho trẻ đạm thực vật cũng chỉ nên cho ăn 1 -2 lần/tuần và phải phối hợp với đạm động vật. Cũng không nên cho trẻ ăn nhiều rau quá, vì trẻ còn nhỏ, rất khó tiêu hoá chất xơ ... khiến chậm lên cân.
Không nên ép trẻ ăn theo một chế độ cứng nhắc (ăn khoán). Tuyệt đối không được dọa nạt trẻ. Nên dỗ dành để trẻ cảm thấy thoải mái khi ăn, nếu trẻ ăn không hết suất thì không cố ép.
Không kéo dài bữa ăn. Không cho trẻ ăn bánh kẹo hoặc uống nước ngọt trước bữa ăn; vì nước ngọt và bánh kẹo sẽ gây cảm giác “no giả tạo” khiến trẻ không muốn ăn nhưng thực chất là trẻ thiếu dinh dưỡng
Những quan niệm sai lầm
Bé Phạm Thị Nam, Hà Nội, chào đời nặng tới 4kg. Thế nhưng, sau 4 tháng, bé chỉ nặng có 6kg và hai năm sau cũng chỉ nặng 8kg. Mẹ của bé, chị Lê Thị Ngọc, đã học mấy cua dạy về cách nấu ăn dặm cho trẻ nhưng tình hình không được cải thiện lắm.
Cuối cùng, chị Ngọc đã đưa con tới Viện dinh dưỡng khám với lý do chán ăn và còi cọc. Chị cho biết, vì lý do công việc, bé Nam bắt đầu ăn sữa ngoài, ăn dặm từ tháng thứ 4. Nhưng càng ngày cháu càng lười ăn. Mặc dù rất cẩn thận, bao nhiêu thức ăn bổ dưỡng, chị đều cho vào cháo cho con. Vậy mà mỗi bữa cháu ăn hơn 1 tiếng đồng hồ, với vài thìa cháo và ăn trong tiếng quát mắng hoặc dỗ dành.
Hãy cho trẻ những bữa ăn ngon và vui vẻ
Tình trạng như của bé Nam không phải là hiếm. Không ít cảnh mẹ bế con dọc tuyến phố, bà nội lếch thếch đi theo để đút từng thìa cháo, chỉ trỏ đến mỏi cả tay, khô cả miệng. Có gia đình còn thuê cả xích lô hoặc đưa trẻ lên xe buýt đi khắp các phố để dỗ trẻ ăn.
Bà Phan Thị Bích Nga, Phó Giám đốc TT Khám tư vấn Dinh Dưỡng cho biết, mỗi ngày TT khám cho khoảng 150 - 200 trẻ, trong đó loại trừ khoảng gần 10% trẻ béo phì, còn hầu hết là do biếng ăn và các chứng bệnh kèm theo như: suy dinh dưỡng, còi xương, rối loạn tiêu hoá, viêm đường hô hấp...
Theo bà Nga, trẻ biếng ăn khi ăn không đủ lượng yêu cầu của lứa tuổi, thời gian ăn kéo quá dài trên 30 phút.
Biếng ăn là triệu chứng của rất nhiều nguyên nhân. Nguyên nhân hay gặp nhất là do phương pháp chăm sóc không đúng của cha mẹ. Nhiều bà mẹ biến bữa ăn của trẻ thành cuộc chiến, trẻ bị ép ngồi gò bó, bị la, bị nhồi nhét dù không thấy đói...
Hơn nữa, cách chế biến chưa phù hợp cũng khiến trẻ không mặn mà với chuyện ăn uống. Nhiều phụ huynh cứ lặp lại mãi công thức cho cả khoai tây, xu hào, cà rốt, đậu xanh… trăm thứ bà rằn, những thứ được coi là bổ, cho tất vào nồi cháo và xay nhỏ. Chính họ còn không ăn được thứ hỗn hợp đó huống gì trẻ kén ăn.
Cũng không ít bà mẹ chỉ cho con ăn nước thịt, nước rau, mà bỏ bã dẫn đến trẻ bị thiếu các chất dinh dưỡng, chất xơ cần thiết, kích thích ăn uống.
Lại có gia đình cho trẻ tập ăn cơm khi trẻ mới 10-12 tháng. Về lý thuyết, chỉ khi trẻ hơn 2-3 tuổi, đủ răng mới có thể nhai tốt. Nếu cho ăn sớm quá, trẻ sẽ không ăn được nhiều, dẫn đến quen dạ, biếng ăn dần.
Bú mẹ giúp kích thích tiêu hóa
GS.TS Nguyễn Thu Nhạn, Chủ tịch Hội Nhi Khoa Việt Nam, nhấn mạnh, hiện nay trẻ biếng ăn nhiều một phần là do các bà mẹ nuôi con bằng sữa nhân tạo.
Các bà mẹ đã không biết rằng, nếu cho trẻ bú hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu đời và tiếp tục bú đến 2 tuổi, sữa mẹ sẽ giúp cho dạ dày bé to ra, đường tiêu hoá phát triển, giúp bé thèm ăn, trong khi sữa nhân tạo không kích thích sự phát triển này. Các nguyên nhân biếng ăn khác có thể điều trị bằng thuốc, xong nguyên nhân này không có thuốc gì điều trị được.
Ngoài ra, để giúp trẻ ăn ngon, ăn tốt hơn, các bà mẹ cần học cách chế biến và tạo bữa ăn vui vẻ.
Theo bà Nga, để chữa dứt điểm biếng ăn phải dựa vào nguyên nhân. Chẳng hạn, bé biếng ăn do thiếu máu phải điều trị thiếu máu. Biếng ăn do còi xương, tâm lý, nhiễm khuẩn... cũng phải điều trị khỏi, bé sẽ bớt biếng ăn.
Nhưng quan trọng hơn cả vẫn là cách chế biến bữa ăn. Các bà mẹ phải chú ý nấu cho trẻ cũng giống như nấu cho người lớn, phối hợp thức ăn cho phù hợp (thịt với rau không được trái nhau), tránh suốt ngày cho một vài vị cố hữu vào như xu hào, khoai tây...
Tuyệt đối không trộn ý dĩ, hạt sen, đậu xanh vào gạo để nấu cho trẻ. Thực tế, ý dĩ, hạt sen không có ý nghĩa về mặt dinh dưỡng thậm chí còn làm trẻ khó tiêu hoá. Đậu xanh là cách ăn của thời bao cấp, chỉ khuyến khích ở các vùng nghèo.
Bữa ăn của trẻ rất cần chất đạm, đặc biệt là đạm động vật. Chất đạm cho bé hàng ngày là 1g cho mỗi kg cân nặng (tối đa là 1,5g). Trẻ cần ăn đạm động vật, thịt trứng, rau, cua, cá thay cho đạm thực vật.
Nếu cho trẻ đạm thực vật cũng chỉ nên cho ăn 1 -2 lần/tuần và phải phối hợp với đạm động vật. Cũng không nên cho trẻ ăn nhiều rau quá, vì trẻ còn nhỏ, rất khó tiêu hoá chất xơ ... khiến chậm lên cân.
Không nên ép trẻ ăn theo một chế độ cứng nhắc (ăn khoán). Tuyệt đối không được dọa nạt trẻ. Nên dỗ dành để trẻ cảm thấy thoải mái khi ăn, nếu trẻ ăn không hết suất thì không cố ép.
Không kéo dài bữa ăn. Không cho trẻ ăn bánh kẹo hoặc uống nước ngọt trước bữa ăn; vì nước ngọt và bánh kẹo sẽ gây cảm giác “no giả tạo” khiến trẻ không muốn ăn nhưng thực chất là trẻ thiếu dinh dưỡng
Viêm da cơ địa
Huy bị khô da quá, đi khám BS bảo bị chàm khô, hôm nay đọc được bài này, không biết có đóng góp gì ko nhưng cứ post lên cái đã vì tiêu đề hơi khác chút.
Viêm da do cơ địa dị ứng ở trẻ em: Có thể bạn chưa biết?
Hiện tượng da ngứa, đóng vảy và bong tróc ở một khu vực nào đó trên da khá thường gặp ở trẻ em. Rất nhiều bà mẹ băn khoăn không biết các biểu hiện như vậy có phải là bị viêm da do cơ địa?
Thế nào là viêm da do cơ địa dị ứng?
Viêm da trên cơ địa dị ứng (viêm da dị ứng rải rác) là một bệnh mạn tính về da, trong đó có hiện tượng viêm da. Biểu hiện thường thấy nhất là: da trở nên ngứa và viêm dữ dội (đỏ, sưng, rạn nứt, rỉ nước, đóng và bong tróc vảy).
Trong hầu hết trường hợp thì bệnh có những giai đoạn nặng lên được gọi là đợt kịch phát, tiếp sau đó là giai đoạn thuyên giảm, trong đó tình trạng da được cải thiện hoặc lành lặn hoàn toàn.
Nhiều trẻ mắc bệnh viêm da dị ứng rải rác lui bệnh hoàn toàn khi lớn mặc dù da vẫn còn khô và dễ bị kích thích. Đối với những người có cơ địa dị ứng di truyền này thì yếu tố môi trường có thể làm khởi phát các triệu chứng của viêm da dị ứng rải rác vào bất cứ thời điểm nào trong cuộc đời.
Độ tuổi mắc bệnh?
Thật đáng tiếc là bệnh viêm da dị ứng rải rác hầu hết xảy ra ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ và có thể diễn tiến đến lúc trưởng thành (60%).
Bệnh hiếm khi khởi phát sau 30 tuổi và nếu có thì thường là sau khi da tiếp xúc với những điều kiện khắc nghiệt. Đối với những người dân sống ở đô thị và những vùng khí hậu có độ ẩm thấp thì nguy cơ mắc phải viêm da dị ứng rải rác dường như cao hơn.
Viêm da dị ứng rải rác có hay gặp không?
Viêm da dị ứng rải rác rất hay gặp và thường hay xảy ra nhất ở trẻ sơ sinh và trẻ em và xuất độ giảm rõ rệt theo tuổi. Ước tính có khoảng 65% bệnh nhân bị bệnh vào năm đầu tiên của cuộc đời và nếu tính các trường hợp mắc bệnh trước 5 tuổi thì chiếm khoảng 90%.
Viêm da dị ứng rải rác có lây nhiễm?
Câu trả lời là Không. Viêm da dị ứng rải rác hoàn toàn không lây nhiễm nghĩa là nó không thể truyền từ người này sang người khác. Do đó không có gì phải e ngại khi sống gần ai đó đang trãi qua thời kỳ hoạt động của viêm da dị ứng rải rác.
Nguyên nhân của viêm da dị ứng cơ địa?
Nguyên nhân vẫn chưa được rõ, nhưng có lẽ là do sự kết hợp giữa yếu tố di truyền và môi trường. Các bằng chứng đã gợi ý rằng bệnh hay đi cùng nhóm bệnh có cơ địa dị ứng như bệnh sốt mùa hè và hen vốn rất hay xuất hiện ở những người viêm da dị ứng rải rác.
Trước đây, người ta nghĩ rằng viêm da dị ứng rải rác là do rối loạn cảm xúc. Ngày nay thì chúng ta biết rằng những yếu tố xúc cảm như stress chỉ thúc đẩy chứ không phải là nguyên nhân gây bệnh.
Biểu hiện điển hình của bệnh?
Các triệu chứng thay đổi tùy người. Triệu chứng hay gặp nhất là da khô, ngứa, nứt nẻ vùng da sau tai và nổi ban ở hai má, tay và chân. Ngứa là yếu tố quan trọng trong viêm da dị ứng rải rác khiến người bệnh gãi, chà xát do đó làm nặng thêm tình trạng viêm da.
Người bệnh rất nhạy cảm với ngứa và thúc đẩy nhu cầu gãi lâu hơn từ đó đi vào một tình trạng gọi là chu kỳ “ngứa-gãi”..
Một vài người do hệ miễn dịch bị hoạt hoá quá mạnh nên da vùng đó bị đỏ, đóng vảy; một số khác do gãi và chà xát nhiều nên da trở nên dày, dai. Hiện tượng này được gọi là “liken hoá” hay là “hằn cổ trâu”.
Một số khác thì xuất hiện những nốt sần hay những vết sưng nhỏ trên da. Khi gãi những nốt sần này, chúng có thể vỡ ra, đóng vảy và nhiễm trùng.
Có thể điều trị khỏi không?
Rất tiếc là không thể điều trị khỏi hoàn toàn mà chỉ có thể điều trị lành vùng da, phòng tái phát…
Để điều trị, có thể dùng thuốc bôi Dibetalic do công ty Cổ phần Traphaco sản xuất với liều lượng 1 lần/ngày (bôi vào buổi tối) cho trẻ nhỏ cho đến khi có cải thiện bệnh. Điểm khác biệt của loại thuốc bôi da Corticoid này là có thêm Acid salicylic, có tác dụng làm mỏng bớt các lớp da dày sừng và tróc vẩy, tạo điều kiện cho dược chất chính là Betamethason dipropionat thấm sâu vào mô tổn thương, giúp cho quá trình điều trị được nhanh chóng
Lưu ý không bôi thuốc khi da đang có tổn thương do vi khuẩn, nấm, virus, ký sinh trùng gây ra.
Để phòng ngừa tái phát, trẻ cần được tắm nước ấm trong thời gian ngắn; móng tay cắt ngắn (để hạn chế xước da khi gãi), mặc quần áo bằng vải cotton mềm; giữ mát cho trẻ; tránh nhiệt độ phòng quá nóng; nhận biết nhiễm trùng da và điều trị ngay lập tức; cố gắng lôi cuốn trẻ vào các hoạt động nhiều để quên ngứa.
Mọi thắc mắc xin liên hệ: Công ty Cổ phần Traphaco - Đường dây tư vấn: 5.371593 ĐC: 75 Yên Ninh – Ba Đình – Hà Nội
Viêm da do cơ địa dị ứng ở trẻ em: Có thể bạn chưa biết?
Hiện tượng da ngứa, đóng vảy và bong tróc ở một khu vực nào đó trên da khá thường gặp ở trẻ em. Rất nhiều bà mẹ băn khoăn không biết các biểu hiện như vậy có phải là bị viêm da do cơ địa?
Thế nào là viêm da do cơ địa dị ứng?
Viêm da trên cơ địa dị ứng (viêm da dị ứng rải rác) là một bệnh mạn tính về da, trong đó có hiện tượng viêm da. Biểu hiện thường thấy nhất là: da trở nên ngứa và viêm dữ dội (đỏ, sưng, rạn nứt, rỉ nước, đóng và bong tróc vảy).
Trong hầu hết trường hợp thì bệnh có những giai đoạn nặng lên được gọi là đợt kịch phát, tiếp sau đó là giai đoạn thuyên giảm, trong đó tình trạng da được cải thiện hoặc lành lặn hoàn toàn.
Nhiều trẻ mắc bệnh viêm da dị ứng rải rác lui bệnh hoàn toàn khi lớn mặc dù da vẫn còn khô và dễ bị kích thích. Đối với những người có cơ địa dị ứng di truyền này thì yếu tố môi trường có thể làm khởi phát các triệu chứng của viêm da dị ứng rải rác vào bất cứ thời điểm nào trong cuộc đời.
Độ tuổi mắc bệnh?
Thật đáng tiếc là bệnh viêm da dị ứng rải rác hầu hết xảy ra ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ và có thể diễn tiến đến lúc trưởng thành (60%).
Bệnh hiếm khi khởi phát sau 30 tuổi và nếu có thì thường là sau khi da tiếp xúc với những điều kiện khắc nghiệt. Đối với những người dân sống ở đô thị và những vùng khí hậu có độ ẩm thấp thì nguy cơ mắc phải viêm da dị ứng rải rác dường như cao hơn.
Viêm da dị ứng rải rác có hay gặp không?
Viêm da dị ứng rải rác rất hay gặp và thường hay xảy ra nhất ở trẻ sơ sinh và trẻ em và xuất độ giảm rõ rệt theo tuổi. Ước tính có khoảng 65% bệnh nhân bị bệnh vào năm đầu tiên của cuộc đời và nếu tính các trường hợp mắc bệnh trước 5 tuổi thì chiếm khoảng 90%.
Viêm da dị ứng rải rác có lây nhiễm?
Câu trả lời là Không. Viêm da dị ứng rải rác hoàn toàn không lây nhiễm nghĩa là nó không thể truyền từ người này sang người khác. Do đó không có gì phải e ngại khi sống gần ai đó đang trãi qua thời kỳ hoạt động của viêm da dị ứng rải rác.
Nguyên nhân của viêm da dị ứng cơ địa?
Nguyên nhân vẫn chưa được rõ, nhưng có lẽ là do sự kết hợp giữa yếu tố di truyền và môi trường. Các bằng chứng đã gợi ý rằng bệnh hay đi cùng nhóm bệnh có cơ địa dị ứng như bệnh sốt mùa hè và hen vốn rất hay xuất hiện ở những người viêm da dị ứng rải rác.
Trước đây, người ta nghĩ rằng viêm da dị ứng rải rác là do rối loạn cảm xúc. Ngày nay thì chúng ta biết rằng những yếu tố xúc cảm như stress chỉ thúc đẩy chứ không phải là nguyên nhân gây bệnh.
Biểu hiện điển hình của bệnh?
Các triệu chứng thay đổi tùy người. Triệu chứng hay gặp nhất là da khô, ngứa, nứt nẻ vùng da sau tai và nổi ban ở hai má, tay và chân. Ngứa là yếu tố quan trọng trong viêm da dị ứng rải rác khiến người bệnh gãi, chà xát do đó làm nặng thêm tình trạng viêm da.
Người bệnh rất nhạy cảm với ngứa và thúc đẩy nhu cầu gãi lâu hơn từ đó đi vào một tình trạng gọi là chu kỳ “ngứa-gãi”..
Một vài người do hệ miễn dịch bị hoạt hoá quá mạnh nên da vùng đó bị đỏ, đóng vảy; một số khác do gãi và chà xát nhiều nên da trở nên dày, dai. Hiện tượng này được gọi là “liken hoá” hay là “hằn cổ trâu”.
Một số khác thì xuất hiện những nốt sần hay những vết sưng nhỏ trên da. Khi gãi những nốt sần này, chúng có thể vỡ ra, đóng vảy và nhiễm trùng.
Có thể điều trị khỏi không?
Rất tiếc là không thể điều trị khỏi hoàn toàn mà chỉ có thể điều trị lành vùng da, phòng tái phát…
Để điều trị, có thể dùng thuốc bôi Dibetalic do công ty Cổ phần Traphaco sản xuất với liều lượng 1 lần/ngày (bôi vào buổi tối) cho trẻ nhỏ cho đến khi có cải thiện bệnh. Điểm khác biệt của loại thuốc bôi da Corticoid này là có thêm Acid salicylic, có tác dụng làm mỏng bớt các lớp da dày sừng và tróc vẩy, tạo điều kiện cho dược chất chính là Betamethason dipropionat thấm sâu vào mô tổn thương, giúp cho quá trình điều trị được nhanh chóng
Lưu ý không bôi thuốc khi da đang có tổn thương do vi khuẩn, nấm, virus, ký sinh trùng gây ra.
Để phòng ngừa tái phát, trẻ cần được tắm nước ấm trong thời gian ngắn; móng tay cắt ngắn (để hạn chế xước da khi gãi), mặc quần áo bằng vải cotton mềm; giữ mát cho trẻ; tránh nhiệt độ phòng quá nóng; nhận biết nhiễm trùng da và điều trị ngay lập tức; cố gắng lôi cuốn trẻ vào các hoạt động nhiều để quên ngứa.
Mọi thắc mắc xin liên hệ: Công ty Cổ phần Traphaco - Đường dây tư vấn: 5.371593 ĐC: 75 Yên Ninh – Ba Đình – Hà Nội
Xử lý thế nào khi con bị nôn vọt
Mặc dù nôn trớ là hiện tượng bình thường đối với trẻ nhỏ nhưng nếu thấy trẻ nôn vọt ra thành vòi thì cần đưa ngay đến bệnh viện, vì đó có thể là dấu hiệu tổn thương ở não.
Không có bà mẹ nào không trải qua tâm trạng xót ruột khi con nôn trớ. Giải thích điều này, bác sĩ Nguyễn Văn Lộc, Bệnh viện Nhi Trung ương, cho biết, đó là do cấu tạo hệ tiêu hóa trẻ em. Trước 6 tuổi, thực quản - dạ dày trẻ gần như là một đường thẳng, chưa tạo thành góc cong rõ rệt như người lớn. Do đó, thức ăn đưa vào rất dễ trào ngược lên. Ngoài ra, hệ thần kinh của trẻ chưa hoàn thiện nên dễ gây kích thích co bóp dạ dày, dẫn đến hiện tượng này.
Trẻ dưới 1 tuổi (nhất là 6 tháng đầu) rất hay bị trớ khi ăn quá nhiều, hoặc bú không đúng cách nên nuốt phải quá nhiều hơi. Trẻ cười to, đùa nghịch, vận động nhiều khi đang ăn hoặc mới ăn xong cũng dễ bị trào thực phẩm ra ngoài.
Ngoài ra, nếu bị viêm họng, amiđan, phế quản, phổi..., trẻ cũng dễ nôn sau ăn, hay khi ho quá nhiều. Đó là hiện tượng bình thường, bố mẹ không nên quá lo lắng.
Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, nôn lại là dấu hiệu của bệnh lý, thậm chí rất nguy hiểm, cần sớm đưa trẻ đến gặp bác sĩ:
Nôn do dị dạng đường tiêu hóa
Teo hẹp thực quản: Thường phát hiện ngay ở giai đoạn sơ sinh (1 tháng đầu). Do dị tật này, trẻ vừa bú đã sặc và nôn ngay bởi thức ăn không kịp xuống phía dưới của đường tiêu hóa.
Hẹp tá tràng, ruột non: Thức ăn không tiếp tục đi xuống đoạn cuối ống tiêu hóa được, dẫn đến hiện tượng nôn sau khi ăn 2-3 tiếng, nôn hết mới thôi. Triệu chứng cũng được phát hiện ngay ở giai đoạn sơ sinh.
Phì đại cơ môn vị ở phần cuối dạ dày, cơ này co bóp thường xuyên khiến trẻ dễ bị nôn khoảng 1-2 tiếng sau ăn, chất nôn có vón sữa. Thường xuất hiện khi trẻ 2-3 tháng.
Phình đại trạng bẩm sinh: Đoạn cuối ống tiêu hóa không có thần kinh co bóp nên phân tắc lại, lâu ngày phình to. Khi tắc đầy quá, trẻ sẽ bị nôn, găp từ sơ sinh đến lớn.
Nôn do các bệnh về não
Viêm não, màng não: Gặp ở mọi lứa tuổi, trong đó viêm màng não (do vi khuẩn) thường gặp ở những cháu dưới 1 tuổi; viêm não (thường do virus) hay xảy ra nhất ở trẻ 3 tuổi trở lên. Trẻ sốt, thóp phồng, nôn vọt (phun như vòi), sau đó là lơ mơ, mất tri giác, hoặc ngủ li bì...
Xuất huyết não, màng não do thiếu vitamin K: Xảy ra lúc khoảng 45 ngày tuổi ở những trẻ không được tiêm vitamin K khi mới ra đời. Thường trẻ tự nhiên khóc thét lên một tiếng (có những trẻ không khóc), da xanh nhợt đi do thiếu máu, nôn vọt, li bì, thóp phồng.
Tai biến mạch máu não: Do dị dạng mạch máu, thường xảy ra ở trẻ lớn, khoảng 9-10 tuổi. Trẻ tự nhiên đau đầu, sau đó có biểu hiện thiếu máu (da, môi, niêm mạc xanh nhợt), nôn, hôn mê.
Các nguyên nhân khác
Bã thức ăn: Thức ăn không được tiêu hóa hết, vón thành cục, gây tắc ở tá tràng. Trẻ không sốt, cứ ăn vào là nôn, đi ngoài rất ít phân. Bệnh thường xảy ra ở trẻ ngoài 3 tuổi.
Nhiễm virus đường tiêu hóa: Thường gặp nhất là rota virus, gây tiêu chảy và nôn, kèm sốt. Bệnh xảy ra nhiều ở trẻ dưới 6 tháng tuổi.
Lồng ruột: Gặp nhiều nhất ở trẻ 7-8 tháng đến 1 tuổi. Trẻ bỗng nhiên khóc thét vì đau bụng, nôn vọt nhiều lần, thậm chí không còn thức ăn vẫn nôn.
Hải Hà
Không có bà mẹ nào không trải qua tâm trạng xót ruột khi con nôn trớ. Giải thích điều này, bác sĩ Nguyễn Văn Lộc, Bệnh viện Nhi Trung ương, cho biết, đó là do cấu tạo hệ tiêu hóa trẻ em. Trước 6 tuổi, thực quản - dạ dày trẻ gần như là một đường thẳng, chưa tạo thành góc cong rõ rệt như người lớn. Do đó, thức ăn đưa vào rất dễ trào ngược lên. Ngoài ra, hệ thần kinh của trẻ chưa hoàn thiện nên dễ gây kích thích co bóp dạ dày, dẫn đến hiện tượng này.
Trẻ dưới 1 tuổi (nhất là 6 tháng đầu) rất hay bị trớ khi ăn quá nhiều, hoặc bú không đúng cách nên nuốt phải quá nhiều hơi. Trẻ cười to, đùa nghịch, vận động nhiều khi đang ăn hoặc mới ăn xong cũng dễ bị trào thực phẩm ra ngoài.
Ngoài ra, nếu bị viêm họng, amiđan, phế quản, phổi..., trẻ cũng dễ nôn sau ăn, hay khi ho quá nhiều. Đó là hiện tượng bình thường, bố mẹ không nên quá lo lắng.
Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, nôn lại là dấu hiệu của bệnh lý, thậm chí rất nguy hiểm, cần sớm đưa trẻ đến gặp bác sĩ:
Nôn do dị dạng đường tiêu hóa
Teo hẹp thực quản: Thường phát hiện ngay ở giai đoạn sơ sinh (1 tháng đầu). Do dị tật này, trẻ vừa bú đã sặc và nôn ngay bởi thức ăn không kịp xuống phía dưới của đường tiêu hóa.
Hẹp tá tràng, ruột non: Thức ăn không tiếp tục đi xuống đoạn cuối ống tiêu hóa được, dẫn đến hiện tượng nôn sau khi ăn 2-3 tiếng, nôn hết mới thôi. Triệu chứng cũng được phát hiện ngay ở giai đoạn sơ sinh.
Phì đại cơ môn vị ở phần cuối dạ dày, cơ này co bóp thường xuyên khiến trẻ dễ bị nôn khoảng 1-2 tiếng sau ăn, chất nôn có vón sữa. Thường xuất hiện khi trẻ 2-3 tháng.
Phình đại trạng bẩm sinh: Đoạn cuối ống tiêu hóa không có thần kinh co bóp nên phân tắc lại, lâu ngày phình to. Khi tắc đầy quá, trẻ sẽ bị nôn, găp từ sơ sinh đến lớn.
Nôn do các bệnh về não
Viêm não, màng não: Gặp ở mọi lứa tuổi, trong đó viêm màng não (do vi khuẩn) thường gặp ở những cháu dưới 1 tuổi; viêm não (thường do virus) hay xảy ra nhất ở trẻ 3 tuổi trở lên. Trẻ sốt, thóp phồng, nôn vọt (phun như vòi), sau đó là lơ mơ, mất tri giác, hoặc ngủ li bì...
Xuất huyết não, màng não do thiếu vitamin K: Xảy ra lúc khoảng 45 ngày tuổi ở những trẻ không được tiêm vitamin K khi mới ra đời. Thường trẻ tự nhiên khóc thét lên một tiếng (có những trẻ không khóc), da xanh nhợt đi do thiếu máu, nôn vọt, li bì, thóp phồng.
Tai biến mạch máu não: Do dị dạng mạch máu, thường xảy ra ở trẻ lớn, khoảng 9-10 tuổi. Trẻ tự nhiên đau đầu, sau đó có biểu hiện thiếu máu (da, môi, niêm mạc xanh nhợt), nôn, hôn mê.
Các nguyên nhân khác
Bã thức ăn: Thức ăn không được tiêu hóa hết, vón thành cục, gây tắc ở tá tràng. Trẻ không sốt, cứ ăn vào là nôn, đi ngoài rất ít phân. Bệnh thường xảy ra ở trẻ ngoài 3 tuổi.
Nhiễm virus đường tiêu hóa: Thường gặp nhất là rota virus, gây tiêu chảy và nôn, kèm sốt. Bệnh xảy ra nhiều ở trẻ dưới 6 tháng tuổi.
Lồng ruột: Gặp nhiều nhất ở trẻ 7-8 tháng đến 1 tuổi. Trẻ bỗng nhiên khóc thét vì đau bụng, nôn vọt nhiều lần, thậm chí không còn thức ăn vẫn nôn.
Hải Hà
Ăn nhiều vẫn… suy dinh dưỡng!
Còn nhớ lúc đi học cách nấu bột cho con, BS bảo phải tô màu bát bột của con, to như thế nào mới đúng nhỉ?
Các bà mẹ đưa con đến khám dinh dưỡng thường than vãn về vấn đề trẻ con biếng ăn. Nhưng bên cạnh nguyên nhân phổ biến này, cũng có một số thắc mắc có vẻ ngược đời khi “Con ăn nhiều mà vẫn suy dinh dưỡng”. Tại sao? Câu trả lời là:
Nhiều nhưng không đủ
Mẹ cho rằng con ăn nhiều, nhưng thực chất lại không đủ về số lượng cần thiết trong từng bữa ăn, hoặc ăn không đủ số bữa trong ngày. Ví dụ, nhu cầu của trẻ là phải ăn đầy một chén cháo mỗi bữa, ngày ăn ba bữa cháo và 800ml sữa. Mẹ cho ăn 2/3 chén hoặc ngày chỉ ăn hai bữa, uống thiếu sữa trong ngày… là không đủ cho nhu cầu của trẻ.
Nhiều lượng nhưng ít chất
Số lượng nhiều nhưng không chất lượng: thiếu chất đạm (thịt, cá, trứng, đậu hủ) hoặc thiếu dầu mỡ…
Nhiều nhưng đơn điệu
Ăn nhiều và thường xuyên một loại thức ăn nào đó có thể làm cho cơ thể thiếu cơ hội thu nhận các thực phẩm khác, dẫn đến thiếu chất và không có sự tăng trưởng toàn diện.
Nhiều nhưng dư thừa
Đưa vào cơ thể trẻ số lượng thức ăn vượt quá khả năng tiêu hoá của trẻ. Trẻ sáu tháng tuổi chỉ ăn được tối đa là nửa chén (100ml), nếu cho ăn nhiều hơn, bé sẽ không có đủ men tiêu hoá hết. Phần thức ăn này sẽ không thể hấp thu vào cơ thể khiến bé no hoặc gây tiêu chảy làm bé chướng bụng, khó tiêu nên không chịu uống sữa, rối loạn tiêu hoá và sụt cân.
Nhiều chất đạm không cần thiết
Cho con ăn quá nhiều chất đạm làm bé khó tiêu, giảm ăn, giảm bú.
Nhiều nhưng không phù hợp
Ở mỗi cơ thể trẻ, khả năng tiêu hoá, hấp thu thức ăn khác nhau nên có thể trẻ ăn nhiều so với trẻ đồng tuổi nhưng lại quá sức so với trẻ. Vì vậy, cần phải gia giảm giữa lượng ăn và lượng sữa để trẻ có sự tiêu hoá phù hợp và trẻ được phát triển tốt nhất. Một số trẻ có bệnh lý ở đường ruột, bệnh gan mật, bệnh di truyền, bệnh dị ứng, bất dung nạp thức ăn… làm hạn chế khả năng tiêu hoá, hấp thu thức ăn.
Theo BS Đào Thị Yến Thuỷ
Các bà mẹ đưa con đến khám dinh dưỡng thường than vãn về vấn đề trẻ con biếng ăn. Nhưng bên cạnh nguyên nhân phổ biến này, cũng có một số thắc mắc có vẻ ngược đời khi “Con ăn nhiều mà vẫn suy dinh dưỡng”. Tại sao? Câu trả lời là:
Nhiều nhưng không đủ
Mẹ cho rằng con ăn nhiều, nhưng thực chất lại không đủ về số lượng cần thiết trong từng bữa ăn, hoặc ăn không đủ số bữa trong ngày. Ví dụ, nhu cầu của trẻ là phải ăn đầy một chén cháo mỗi bữa, ngày ăn ba bữa cháo và 800ml sữa. Mẹ cho ăn 2/3 chén hoặc ngày chỉ ăn hai bữa, uống thiếu sữa trong ngày… là không đủ cho nhu cầu của trẻ.
Nhiều lượng nhưng ít chất
Số lượng nhiều nhưng không chất lượng: thiếu chất đạm (thịt, cá, trứng, đậu hủ) hoặc thiếu dầu mỡ…
Nhiều nhưng đơn điệu
Ăn nhiều và thường xuyên một loại thức ăn nào đó có thể làm cho cơ thể thiếu cơ hội thu nhận các thực phẩm khác, dẫn đến thiếu chất và không có sự tăng trưởng toàn diện.
Nhiều nhưng dư thừa
Đưa vào cơ thể trẻ số lượng thức ăn vượt quá khả năng tiêu hoá của trẻ. Trẻ sáu tháng tuổi chỉ ăn được tối đa là nửa chén (100ml), nếu cho ăn nhiều hơn, bé sẽ không có đủ men tiêu hoá hết. Phần thức ăn này sẽ không thể hấp thu vào cơ thể khiến bé no hoặc gây tiêu chảy làm bé chướng bụng, khó tiêu nên không chịu uống sữa, rối loạn tiêu hoá và sụt cân.
Nhiều chất đạm không cần thiết
Cho con ăn quá nhiều chất đạm làm bé khó tiêu, giảm ăn, giảm bú.
Nhiều nhưng không phù hợp
Ở mỗi cơ thể trẻ, khả năng tiêu hoá, hấp thu thức ăn khác nhau nên có thể trẻ ăn nhiều so với trẻ đồng tuổi nhưng lại quá sức so với trẻ. Vì vậy, cần phải gia giảm giữa lượng ăn và lượng sữa để trẻ có sự tiêu hoá phù hợp và trẻ được phát triển tốt nhất. Một số trẻ có bệnh lý ở đường ruột, bệnh gan mật, bệnh di truyền, bệnh dị ứng, bất dung nạp thức ăn… làm hạn chế khả năng tiêu hoá, hấp thu thức ăn.
Theo BS Đào Thị Yến Thuỷ
Mẹo chữa bệnh bằng hành tây
Lại học nữa nhé:
Vào mùa lạnh, bạn hay bị tắc mũi, khó thở do cảm cúm. Có thể khắc phục bằng cách cắt một lát nhỏ hành tây rồi ngửi thường xuyên, hoặc đưa vào mũi.
Hành tây rất giàu selen (rất tốt cho da, móng và tóc), và quexetin (giúp chống ôxy hoá rất mạnh). Hai chất này kết hợp giúp khử các gốc tự do, nguyên nhân gây lão hóa. Ngoài ra, hành tây cũng rất giàu kali, vitamin C.
Hành tây giúp hạ huyết áp, làm vững bền thành mạch, giúp ngăn ngừa xuất huyết não. Loại củ này chứa chất kháng sinh phytonxit nên có tác dụng chữa ho, trừ đờm. Hành tây cũng có ích cho người mất ngủ, tiêu hóa kém.
Khi dùng ngoài, hành tây có thể trị áp xe, chín mé, mụn nhọt, mụn cóc. Nó cũng được khẳng định là một loại viagra tự nhiên hiệu quả. Sau đây là một số mẹo nhỏ chữa bệnh từ loài rau này:
Tiêu chảy: Vỏ lụa hành tây 1 nắm, đun nước uống trong ngày.
Giải cảm: Hành tây cắt nhỏ cho vào nấu chín, uống lúc còn nóng, hoặc cho vào cháo ăn nóng, giúp mồ hôi và giải nhiệt nhanh.
Đuổi muỗi, chữa khó ngủ: Đặt một vài lát hành thái nhỏ bên cạnh khi ngủ.
Hành tây và các "họ hàng" của nó như tỏi, tỏi tây và hẹ tây rất giàu hợp chất phytonutrient, tuy có tác dụng bảo vệ tim nhưng lại gây hại cho dạ dày. Vì vậy, những người mắc bệnh dạ dày cần nấu chín để khử hợp chất này.
Một số mẹo vặt trong bếp với hành tây
Khử mùi: Dùng cọng hành tây cho vào nồi cơm bị khê khi còn nóng, đậy nắp lại, mùi khó chịu này sẽ biến mất. Hoặc khi nhà có mùi sơn nồng nặc, đặt miếng hành tây bên cạnh, mùi của hành tây hết và mùi sơn cũng hết.
Cho hai cọng hành tây vào xì dầu hoặc giấm để giúp chúng không bị mốc.
Làm sạch đồ dùng nhà bếp bằng cách lấy rễ hành tây chà bề mặt đồ dùng bám dầu mỡ; đặc biệt với đồ đồng, thiếc sẽ rất sáng đẹp.
Lau cửa kính: Cắt đôi củ hành tây, lấy mặt cắt chà lên cửa kính. Sau đó, dùng vải khô lau thật nhanh trước khi nước hành khô, mặt kính sẽ bóng loáng như mới.
Ngăn ruồi đậu lên thức ăn: Rửa sạch thực phẩm, để ráo nước, đặt vài cọng hành tây đã rửa sạch lên trên, ruồi sẽ tránh xa.
Xử lý dao bị gỉ: Cắt đôi củ hành tây, chà mặt cắt lên phần dao gỉ, vết gỉ sét sẽ biến mất.
Vào mùa lạnh, bạn hay bị tắc mũi, khó thở do cảm cúm. Có thể khắc phục bằng cách cắt một lát nhỏ hành tây rồi ngửi thường xuyên, hoặc đưa vào mũi.
Hành tây rất giàu selen (rất tốt cho da, móng và tóc), và quexetin (giúp chống ôxy hoá rất mạnh). Hai chất này kết hợp giúp khử các gốc tự do, nguyên nhân gây lão hóa. Ngoài ra, hành tây cũng rất giàu kali, vitamin C.
Hành tây giúp hạ huyết áp, làm vững bền thành mạch, giúp ngăn ngừa xuất huyết não. Loại củ này chứa chất kháng sinh phytonxit nên có tác dụng chữa ho, trừ đờm. Hành tây cũng có ích cho người mất ngủ, tiêu hóa kém.
Khi dùng ngoài, hành tây có thể trị áp xe, chín mé, mụn nhọt, mụn cóc. Nó cũng được khẳng định là một loại viagra tự nhiên hiệu quả. Sau đây là một số mẹo nhỏ chữa bệnh từ loài rau này:
Tiêu chảy: Vỏ lụa hành tây 1 nắm, đun nước uống trong ngày.
Giải cảm: Hành tây cắt nhỏ cho vào nấu chín, uống lúc còn nóng, hoặc cho vào cháo ăn nóng, giúp mồ hôi và giải nhiệt nhanh.
Đuổi muỗi, chữa khó ngủ: Đặt một vài lát hành thái nhỏ bên cạnh khi ngủ.
Hành tây và các "họ hàng" của nó như tỏi, tỏi tây và hẹ tây rất giàu hợp chất phytonutrient, tuy có tác dụng bảo vệ tim nhưng lại gây hại cho dạ dày. Vì vậy, những người mắc bệnh dạ dày cần nấu chín để khử hợp chất này.
Một số mẹo vặt trong bếp với hành tây
Khử mùi: Dùng cọng hành tây cho vào nồi cơm bị khê khi còn nóng, đậy nắp lại, mùi khó chịu này sẽ biến mất. Hoặc khi nhà có mùi sơn nồng nặc, đặt miếng hành tây bên cạnh, mùi của hành tây hết và mùi sơn cũng hết.
Cho hai cọng hành tây vào xì dầu hoặc giấm để giúp chúng không bị mốc.
Làm sạch đồ dùng nhà bếp bằng cách lấy rễ hành tây chà bề mặt đồ dùng bám dầu mỡ; đặc biệt với đồ đồng, thiếc sẽ rất sáng đẹp.
Lau cửa kính: Cắt đôi củ hành tây, lấy mặt cắt chà lên cửa kính. Sau đó, dùng vải khô lau thật nhanh trước khi nước hành khô, mặt kính sẽ bóng loáng như mới.
Ngăn ruồi đậu lên thức ăn: Rửa sạch thực phẩm, để ráo nước, đặt vài cọng hành tây đã rửa sạch lên trên, ruồi sẽ tránh xa.
Xử lý dao bị gỉ: Cắt đôi củ hành tây, chà mặt cắt lên phần dao gỉ, vết gỉ sét sẽ biến mất.
Lưu ý khi đi tắm
Hôm nay đọc bài về việc tắm (trên báo ĐT Dân Trí) mới biết lâu nay mình tắm mà chẳng theo bất cứ nguyên tắc nào. Thế mới biết, cái gì cũng phải học cả.
Những lưu ý khi đi tắm
(Dân trí) - Ai cũng phải tắm. Tắm lúc nào cũng mang lại lợi ích tích cực cho sức khỏe con người. Tuy nhiên, tùy vào mục đích mà bạn nên chọn thời điểm tắm cũng như nhiệt độ nước khi tắm để đạt hiệu quả cao nhất.
Tắm trong bao lâu?
Nếu là tắm dưới vòi sen, bạn chỉ cần tắm khoảng 10 phút là đủ.
Nhưng nếu tắm bồn, thì nên ngâm người trong bồn tắm 3-5 phút, sau đó bước ra nghỉ ngơi 1 chút rồi lại vào bồn. Lặp lại 2-3 lần như vậy có thể khiến cho cơ thể duy trì được trạng thái tốt nhất.
Thời điểm tắm tốt nhất?
Tắm sáng: Làm tăng sự tuần hoàn máu, giúp cơ thể sảng khoái.
Nên tắm trước bữa ăn sáng.
Nhiệt độ nước cần hơi nóng và thời gian tắm cần ngắn, nhanh (không cần dùng xà phòng) để đẩy hết những chất thải bẩn do chuyển hóa bài tiết ra trong khi ngủ.
Tắm tối: Làm đẹp cơ thể, loại bỏ chất bẩn; giúp cơ thể thư giãn, giảm stress.
Có thể tắm trước hoặc sau bữa ăn, thời gian tốt nhất là cách bữa ăn 2 giờ.
Thời gian tắm có thể kéo dài hơn.
Nhiệt độ nước như thế nào?
Nước lạnh (15 - 20oC)
Tác dụng: kích thích nhịp tim, chống lại sự căng thẳng, hạn chế lượng mồ hôi tiết ra quá nhiều, giảm bớt những vấn đề làn da nhạy cảm và làm rắn chắc các mô. Nó thực sự tốt cho những ai mắc căn bệnh về tuần hoàn máu.
Thực hiện: Hãy bắt đầu bằng nuớc có nhiệt độ ấm sau đó mới hạ dần nhiệt độ nước xuống tới nhiệt độ thích hợp. Để nước tiếp xúc với chân, tay trước rồi mới đến thân mình.
Hiệu quả: Tắm nước lạnh vào buổi sáng sẽ làm cho cơ thể săn chắc, giúp lưu thông máu. Còn tắm vào buổi tối sẽ làm hạn chế cơn buồn ngủ sớm.
Nước ấm (25 - 38oC)
Tác dụng:
+ 25 - 30ºC: kích thích đầu mút dây thần kinh, tăng cường trương lực cơ thể và chống lại hiện tượng viêm mô tế bào.
+ 26 - 38ºC: đây là nhiệt độ nước lý tưởng để xoa dịu các cơn đau mình mẩy và các chứng viêm khớp, làm dịu cơn đau của các chị em trong thời kỳ kinh nguyệt và tẩy sạch làn da
Thực hiện: Hãy bắt đầu ngay với nhiệt độ nước từ 30 - 32oC.
Hiệu quả: Tắm bằng nước ấm trước khi ăn tối giúp ngon miện và tạo giấc ngủ sâu còn tắm vào giữa ngày xua đi những mệt mỏi bất thường.
Nước nóng (38 - 40oC)
Tác dụng: loại bỏ căng thẳng; thư giãn cơ bắp; giúp ngủ ngon, thải loại độc tố.
Thực hiện: Bắt đầu nước ấm sau đó tăng dần nhiệt độ đến 37oC. Trước khi kết thúc, hãy tắm lại bằng nước ấm và dùng vòi sen phun nước lên tay và chân.
Hiệu quả: Tắm nước nóng vào buổi tối giúp bình tĩng lấy lại sự tự tin, còn vào buổi sáng sẽ đánh thức các hoạt động của cơ thể. Tuy nhiên nếu cơ thể mệt mỏi hay có vấn đề về tuần hoàn thì không nên ngâm mình quá 10 phút
Những lưu ý khi đi tắm
(Dân trí) - Ai cũng phải tắm. Tắm lúc nào cũng mang lại lợi ích tích cực cho sức khỏe con người. Tuy nhiên, tùy vào mục đích mà bạn nên chọn thời điểm tắm cũng như nhiệt độ nước khi tắm để đạt hiệu quả cao nhất.
Tắm trong bao lâu?
Nếu là tắm dưới vòi sen, bạn chỉ cần tắm khoảng 10 phút là đủ.
Nhưng nếu tắm bồn, thì nên ngâm người trong bồn tắm 3-5 phút, sau đó bước ra nghỉ ngơi 1 chút rồi lại vào bồn. Lặp lại 2-3 lần như vậy có thể khiến cho cơ thể duy trì được trạng thái tốt nhất.
Thời điểm tắm tốt nhất?
Tắm sáng: Làm tăng sự tuần hoàn máu, giúp cơ thể sảng khoái.
Nên tắm trước bữa ăn sáng.
Nhiệt độ nước cần hơi nóng và thời gian tắm cần ngắn, nhanh (không cần dùng xà phòng) để đẩy hết những chất thải bẩn do chuyển hóa bài tiết ra trong khi ngủ.
Tắm tối: Làm đẹp cơ thể, loại bỏ chất bẩn; giúp cơ thể thư giãn, giảm stress.
Có thể tắm trước hoặc sau bữa ăn, thời gian tốt nhất là cách bữa ăn 2 giờ.
Thời gian tắm có thể kéo dài hơn.
Nhiệt độ nước như thế nào?
Nước lạnh (15 - 20oC)
Tác dụng: kích thích nhịp tim, chống lại sự căng thẳng, hạn chế lượng mồ hôi tiết ra quá nhiều, giảm bớt những vấn đề làn da nhạy cảm và làm rắn chắc các mô. Nó thực sự tốt cho những ai mắc căn bệnh về tuần hoàn máu.
Thực hiện: Hãy bắt đầu bằng nuớc có nhiệt độ ấm sau đó mới hạ dần nhiệt độ nước xuống tới nhiệt độ thích hợp. Để nước tiếp xúc với chân, tay trước rồi mới đến thân mình.
Hiệu quả: Tắm nước lạnh vào buổi sáng sẽ làm cho cơ thể săn chắc, giúp lưu thông máu. Còn tắm vào buổi tối sẽ làm hạn chế cơn buồn ngủ sớm.
Nước ấm (25 - 38oC)
Tác dụng:
+ 25 - 30ºC: kích thích đầu mút dây thần kinh, tăng cường trương lực cơ thể và chống lại hiện tượng viêm mô tế bào.
+ 26 - 38ºC: đây là nhiệt độ nước lý tưởng để xoa dịu các cơn đau mình mẩy và các chứng viêm khớp, làm dịu cơn đau của các chị em trong thời kỳ kinh nguyệt và tẩy sạch làn da
Thực hiện: Hãy bắt đầu ngay với nhiệt độ nước từ 30 - 32oC.
Hiệu quả: Tắm bằng nước ấm trước khi ăn tối giúp ngon miện và tạo giấc ngủ sâu còn tắm vào giữa ngày xua đi những mệt mỏi bất thường.
Nước nóng (38 - 40oC)
Tác dụng: loại bỏ căng thẳng; thư giãn cơ bắp; giúp ngủ ngon, thải loại độc tố.
Thực hiện: Bắt đầu nước ấm sau đó tăng dần nhiệt độ đến 37oC. Trước khi kết thúc, hãy tắm lại bằng nước ấm và dùng vòi sen phun nước lên tay và chân.
Hiệu quả: Tắm nước nóng vào buổi tối giúp bình tĩng lấy lại sự tự tin, còn vào buổi sáng sẽ đánh thức các hoạt động của cơ thể. Tuy nhiên nếu cơ thể mệt mỏi hay có vấn đề về tuần hoàn thì không nên ngâm mình quá 10 phút
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)