Hiển thị các bài đăng có nhãn Học học nữa học mãi. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Học học nữa học mãi. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 7 tháng 4, 2011

Trẻ dưới 10 tuổi không nên ăn gì?

(Dân trí) - Những lưu ý dưới đây sẽ giúp bạn hoàn thiện chế độ dinh dưỡng tốt nhất cho trẻ:



Trước 3 tháng tuổi không nên ăn mặn

Trẻ dưới 3 tuổi không phải là không cần muối mà là đã hấp thụ được đầy đủ lượng muối từ sữa mẹ hoặc sữa bò.

Sau 3 tháng, cùng với sự lớn lên và phát triển, chức năng thận của trẻ dần dần được kiện toàn, lượng muối cũng theo đó mà dần dần tăng lên, lúc này có thể cho trẻ ăn một chút ít.

Nguyên tắc là sau 6 tháng, lượng muối cho trẻ ăn hàng ngày phải được khống chế ở dưới 1g.

Dưới 1 tuổi không nên ăn mật ong

Quần thể vi khuẩn bình thường trong đường ruột của trẻ em dưới 1 tuổi vẫn chưa hoàn toàn được thiết lập. Nếu cho trẻ ăn mật ong sẽ rất dễ gây ra viêm nhiễm. Trẻ sẽ xuất hiện các triệu chứng như buồn nôn, nôn ọe, đau bụng đi ngoài….

Dưới 3 tuổi không nên uống trà

Trẻ dưới 3 tuổi không nên uống trà. Chất tannin trong trà sẽ can thiệp vào sự hấp thụ của sắt, kẽm, canxi và khoáng chất, protein trong thức ăn trong cơ thể, làm cho trẻ thiếu protein và khoáng chất từ đó ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của trẻ.

Dưới 5 tuổi không nên uống thuốc bổ

Dưới 5 tuổi là thời kỳ phát triển quan trọng của trẻ, trong thuốc bổ hàm chứa nhiều hooc-môn hoặc chất giống như hooc-môn có thể làm cho hai đầu ống xương của trẻ

khép lại sớm, kết quả là trẻ bị lùn, trẻ lớn nhưng không phát triển chiều cao, đồng thời hooc-môn sẽ can thiệp vào hệ thống phát triển của trẻ làm cho trẻ phát triển và già trước tuổi.

Ngoài ra, khi còn nhỏ uống thuốc bổ còn có thể gây ra chảy máu lợi, khát nước, táo bón, huyết áp tăng cao, chướng bụng….

Dưới 10 tuổi không nên ăn thực phẩm muối

Có hai nguyên nhân để trẻ dưới 10 tuổi không nên ăn thực phẩm muối, đó là thực phẩm muối cá muối, thịt muối, rau dưa muối) chứa một lượng muối rất cao, những thực phẩm có lượng muối cao rất dễ gây ra bệnh cao huyết áp cho trẻ sau này.

Nguyên nhân thứ hai là trong những thực phẩm muối có chứa chất Nitrit, chất gây ra ung thư. Theo tài liệu nghiên cứu chỉ rõ, những trẻ em dưới 10 tuổi bắt đầu ăn thực phẩm muối, sau khi trưởng thành thì khả năng bị ung thư cao gấp 3 lần so với những trẻ em thông thường khác, đặc biệt nguy cơ gây ra ung thư cổ họng là rất cao.

Dương Hằng

Theo healthoo

Thứ Ba, 15 tháng 3, 2011

Cơn địa chấn kinh hoàng ở Nhật Bản

Động đất 9 độ richter không làm dân Nhật nao núng nhưng cơn sóng thần cao 10m đã đánh gục những người dân kiên cường. Tại sao động đất lại tạo ra sóng thần, chúng ta cùng tìm hiểu qua bài viết ở vnexpress nhé.

Sóng thần tại Nhật hình thành như thế nào?

Động đất và sóng thần tại Nhật Bản hôm 11/3 xuất hiện sau khi mảng địa tầng Thái Bình Dương xô mảng kiến tạo Bắc Mỹ lên phía trên.

Miền bắc Nhật Bản nằm ngay phía trên rìa phía tây của mảng địa tầng Bắc Mỹ (North American Plate)và gần mảng địa tầng Thái Bình Dương (Pacific Plate).
Trong rãnh Nhật Bản
Trong một khu vực được gọi là "rãnh Nhật Bản" (Japan TRench), mảng kiến tạo Thái Bình Dương (Pacific Plate) dịch chuyển về phía tây khoảng 8 cm mỗi năm.
Cơn địa chấn hôm 11/3 là kết quả
Cơn địa chấn hôm 11/3 là kết quả của sự va chạm giữa hai mảng địa tầng ở đường đứt gãy. Mảng địa tầng Thái Bình Dương đâm mạnh xuống phía dưới mảng địa tầng Bắc Mỹ và đẩy mảng Bắc Mỹ lên phía trên.
Sự dịch chuyển lên phía trên của mảng kiến tạo Bắc Mỹ
Sự dịch chuyển lên phía trên của mảng địa tầng Bắc Mỹ khiến một lượng nước khổng lồ phía trên nó trồi lên với sức mạnh khủng khiếp.
Từ tâm chấn của động đất, năng lượng của nước
Từ tâm chấn của động đất, năng lượng của nước lan tỏa ra mọi hướng. Những con sóng dưới đáy đại dương có bước sóng khá lớn trong khi chiều cao lại thấp nên chúng có thể lan truyền với tốc độ 900 km/h.
Khi sóng tới gần bờ,
Khi sóng tới gần bờ, địa hình dốc dưới đáy biển khiến chiều cao của sóng tăng. Sóng cao ngất tràn lên bờ vì lượng nước và năng lượng khổng lồ dồn đẩy chúng từ phía sau.
Sóng thần có độ cao từ 6 m trở lên ập vào bờ biển phía đông bắc Nhật Bản và cảnh báo sóng thần được ban bố tới tận nước Mỹ và Nam Mỹ.

Việt Linh (Đồ họa: Cục Địa chất Mỹ)


Thứ Tư, 1 tháng 9, 2010

Mã vạch một số nước

Phân bit da vào 3 ch s đu trên mã vch:

Trung Quốc: 690, 691, 692

Đài Loan 471

Mỹ & Canada: 00~09

Pháp 30~37

Đức 40~44

Nhật 49

Anh 50

Thứ Năm, 19 tháng 3, 2009

10 lời khuyên trong dinh dưỡng

Lời khuyên 1 - Ăn uống đa dạng

Cơ thể chúng ta cần nhiều chất dinh dưỡng từ nhiều nguồn lương thực khác nhau. Vì vậy chúng ta nên thay đổi các loại lương thực khác nhau. Chúng ta không cần kiêng chi cả - quan trọng là chú ý đến số lượng. Ai ăn uống đa dạng, thỉnh thoảng có thể tự cho phép ăn "nhiều" một lần! Ăn uống đơn điệu có thể có hại. Vì một số dinh dưỡng được đưa vào cơ thể quá nhiều, trong khi những chất quan trọng khác lại thiếu. Theo đó sức khoẻ sẽ bị ảnh hưởng. Ăn uống đa dạng là như thế nào, nhìn vào kim tự tháp dinh dưỡng chúng ta sẽ hiểu. Trên kim tự tháp lương thực được chia thành 8 nhóm:

- Ngũ cốc, sản phẩm ngũ cốc, khoai tây
- Thức uống
- Rau cỏ
- Trái cây
- Sữa và sản phẩm sữa
- Thịt, cá, trứng
- Mỡ và dầu thực vật
- Các đồ ăn ngọt

Tất cả những nhóm lương thực được phân chia theo một dinh dưỡng điều độ và số lượng được diễn tả bằng độ lớn của từng ô trên kim tự tháp: Ô lớn - số lượng lớn, ô nhỏ - số lượng nhỏ.

Lời khuyên 2

- Sản phẩm ngũ cốc - ăn nhiều bữa cơm, khoai tây.

Khoai tây cũng như cơm gạo, ngũ cốc và những sản phẩm từ đó như bánh mỳ có nhiếu chất bột, những protein có giá trị và nhiều vitamin, chất khoáng, chất sơ v. .v . Các chất được nêu lên sau cùng có nhiều trong màng ngoài của hạt ngũ cốc và sẽ mất đi trong quá trình xay, bào (như xay lúa). Loại gạo nức (gạo vẫn còn vỏ bạc bọc quanh hạt gạo) còn chứa nhiều chất này mà qua quá trình xay không bị mất.

Lời khuyên:

- Ăn bánh mỳ ngũ cốc, cơm, khoai tây, nui
- Nên thử các loại ngũ cốc khác như yến mạch, lúa mì, lúa mạch
- Nên ăn các loại gạo nức, nui làm từ gạo nức

Lời khuyên 3 - Rau và trái cây - ăn 5 lần trong ngày

Nên ăn rau và trái cây nhiều lần trong ngày. Rau, trái cây có ít calory nhưng có nhiều vitamin, chất khoáng và chất sơ.Trong trái cây còn có chất màu và hương vị, thí dụ như ớt chuông có màu xanh hoặc đỏ, trái dưa leo có mùi của trái dưa leo và hành có mùi hăng. Tất cả các loại này giúp cơ thể chúng ta được mạnh khoẻ Các nghiên cứu khoa học cho thấy rau cỏ và trái cây giúp cơ thể tránh được ung thư, bệnh tim, tuần hoàn máu...

Lời khuyên:

- Ăn 5 lần trái cây rau cỏ trong một ngày.
- Ăn trái cây vào thời gian giữa hai bữa ăn chính , các loại như táo, chuối vân vân...
- Bữa trưa và bữa chiều không nên thiếu rau, hoặc salad
- Nước rau hoặc nước trái cây cũng theo tiêu chuẩn 5 lần một ngày - Ði làm hay đi học nên đem theo trái cây ăn lót dạ.

Lời khuyên 4 - Dùng sữa và sản phẩm từ sữa mỗi ngày, nhiều lần trong tuần thịt và trứng, ít nhất một lần cá.
Các sản phẩm từ thịt có nhiều protein quan trọng cũng như các loại vitamin và chất khoáng. Bên cạnh đó thịt cũng có chứa những chất mà nhiều quá sẽ làm hại sức khoẻ như mỡ, cholesterol, purine và muối. Trường hợp ngoại lệ là sữa và sản phẩm. Các loại này có nhiều calcium, một chất cần thiết để làm cứng xương. Mỗi ngày nên uống sữa, ăn yoghurt, phô mai. Trong các loại này cũng chứa nhiều mỡ, nên lựa các sản phẩm có ít mỡ như:

1,5 % mỡ đối với sữa và yoghurt, 30-45% mỡ đối với phô mai Các loại cá biển cũng rất có lợi cho sức khoẻ. Chúng có chứa iodine và giúp tránh được bịnh sưng tuyến giáp

Lời khuyên:

- Không nên ăn thịt nhiều hơn 2-3 lần trong tuần.
- Không nên ăn xúc xích nhiều hơn 2-3 lần trong tuần.
- Không nên ăn nhiều hơn 3 trứng gà trong tuần.
- Mỗi ngày 2 đến 3 khẩu phần sữa và sản phẩm từ sữa (một ly sữa và 2-3 miếng phô mai).
- Một tuần nên ăn 2- 3 lần cá biển.

Lời khuyên 5 - Ăn ít mỡ cũng như ít lương thực có mỡ

Mỡ và dầu quan trọng vì chúng có chứa những acid mỡ thiết yếu và vitamin E. Thế nhưng quá nhiều sẽ có hại cho sức khoẻ: Mỡ không hoàn toàn giống mỡ ! Một loại lương thực có nhiều mỡ sẽ có hại cho tim và bộ máy tuần hoàn. Chú ý đến lượng mỡ trong lương thực như trong xúc xích, trong phô mai Các loại dầu thực vật có chứa nhiều acid mỡ quan trọng. Nên sử dụng dầu thực vật hơn là mỡ.

Lời khuyên:

- Chú ý đến lượng mỡ không thấy được trong xúc xích, phô mai, trứng gà, khoai tây chiên, chocolate, đậu hột, bánh quy, bánh ngọt - Nên ăn các loại xúc xích, phô mai, thịt có ít mỡ.
- Nên dùng bơ thực vật để ăn bánh mì thay vì bơ từ sữa.
- Sử dụng các loại dầu thực vật như dầu hoa hướng dương, dầu olive, dầu từ cải dầu hoặc dầu mầm lúa mì đễ chế biến salad.

Lời khuyên 6 - Ðường và muối - khoảng chừng!

Kẹo, bánh ngọt, trong dinh dưỡng toàn diện không có hại chi cả. Thế nhưng các loại lương thực ngọt nên thưởng thức một cách có ý thức. Ngoài đường chúng còn chứa một số lượng mỡ không nhỏ mà theo thời gian có thể dẫn đến tăng cân, hư răng, bệnh tim và các bệnh khác. Muối không những lấp đi vị riêng biệt của lương thực mà đối với những người nhạy cảm có thể góp phần vào tình trạng cao máu. Nên dùng ít muối và để thay đổi vị có thể sử dụng các loại rau thơm.

Lời khuyên:

- Một ít đồ ngọt trong ngày không ảnh hưởng nhiều (một miếng bánh ngọt, một mẩu chocolate).
- Ăn đậm đà nhưng không mặn. Sử dụng nhiều rau thơm để vị các món ăn ngon hơn.
- Nên sử dụng muối có jodine (muối biển).

Lời khuyên 7 - Uống nhiều nước

Cơ thể chúng ta thải ra mỗi ngày đến 2,5 lít nước và số lượng này cần phải được đưa vào cơ thể trở lại. Một phần có trong lương thực, nhưng phần nhiều khoảng 1,5 đến 2 lít chúng ta phải uống. Loại nước giải khát tốt nhất là nước thường, nước khoáng, nước trái cây không đường hoặc nước trà. Nước trái cây cũng rất tốt nhưng nên pha lỏng với nước (vì lượng đường trong đó). Các loại có chứa coffein vì có ảnh hưởng đến tuần hoàn không nên uống nhiều Các loại nước có chứa cồn không nên dùng để giải khát, mà dùng để thưởng thức với số lượng nhỏ. Cồn có rất nhiều calory.

Lời khuyên:

- Nên dùng nước, trà, nước trái cây pha lỏng để giải khát- Nước trái cây và nước rau xay với lượng calory ( 200 kcal / ly) uống 1-2 ly/ngày.
- Không nên uống quá 2-3 ly cà phê hoặc trà đen trong một ngày.
- Các loại nước ngọt mới bò húc (red bull), Power Drinks có thể có chứa coffein hoặc cồn.

Lời khuyên 8 - Làm ngon và kỹ lưỡng

Chất dinh dưỡng trong thực phẩm thường bị hao hụt vì làm hoặc dự trữ không đúng cách: Ánh sáng, Oxy, nhiệt độ cao làm giảm đi lượng vitamin và chất khoáng.

Lời khuyên:

Rau cỏ và trái cây
- Mua rau tươi, trữ lạnh và tối cũng như tiêu thụ liền (tránh giảm lượng vitamin)
- Rửa dưới nước chảy, tránh ngâm nước (tránh vitamin bị rửa ra)
- Nấu rau chín tới thật ngắn thời gian, với ít nước hoặc mỡ ( tránh phân hủy vitamin bởi nhiệt độ cao)
- Không nên hâm nóng qua lâu, sau khi nấu chín để nguội và bỏ trong tủ lạnh, khi cần sẽ hâm lại.

Lời khuyên 9 - Dành thời gian để thưởng thức bữa ăn

Ý thức trong ăn uống sẽ giúp chúng ta ăn uống đúng cách. Dành thời gian để chuẩn bị bữa ăn. Thưởng thức bữa ăn một cách thanh thản và chậm rãi.

Lời khuyên 10 - Chú ý đến trọng lượng - hãy vận động cơ thể

Chúng ta có cảm giác quá mập hoặc quá ốm? Với Body - Mass - Index (BMI) chúng ta có thể biết trọng lượng của chúng ta có cân xứng hay không.

BMI = trọng lượng cơ thể (kg) / [chiều cao cơ thể (mét)] ²

Ví dụ: BMI = 60 kg / (1,65 m x 1,65 m ) = 22,04

Nếu con số BMI được tính ra nằm giữa 19 và 25, chúng ta có một trọng lượng trung bình. Con số BMI lớn hơn 25 có nghĩa chúng ta quá trọng lượng và nhỏ hơn 19 là chúng ta đang thiếu trọng lượng.

Thứ Tư, 4 tháng 2, 2009

Nhu cầu dinh dưỡng

Nhu cầu dinh dưỡng của mỗi người như thế nào? Ăn bao nhiêu 1 ngày là đủ, mình tham khảo được một số thông tin sau được trích trong "Thành phần dinh dưỡng 400 món ăn thông dụng" - NXB Y học 2001:

Bảng 1 - NHU CẦU DINH DƯỠNG KHUYẾN NGHỊ CHO NGƯỜI VIỆT NAM: Xem

Bảng 2 - CÁC THỰC PHẨM GIÀU VITAMIN A: Xem

Bảng 3 - CÁC THỰC PHẨM GIÀU BETA - CAROTEN: Xem

Bảng 4 - CÁC THỰC PHẨM GIÀU SẮT: Xem

Bảng 5 - CÁC THỰC PHẨM GIÀU SẮT: Xem

Bảng 6 - CÁC THỰC PHẨM GIÀU CANXI: Xem

Bảng 7 - CÁC THỰC PHẨM GIÀU CANXI: Xem

Bảng 8 - CÁC THỰC PHẨM GIÀU KẼM: Xem

Bảng 9 - HÀM LƯỢNG CHOLESTEROL TRONG MỘT SỐ THỰC PHẨM: Xem

Thứ Hai, 7 tháng 4, 2008

Quả khế quả vàng.

Quả gì mà chua chua thế xin thưa rằng quả khế...

Photobucket

Khế có nguồn gốc từ Malaixia, tên hán là ngũ lãng tử, tên khoa học là : Averrhoer carambola line. Người tìm ra tác dụng của khế là 1 thầy thuốc người Arập tên là Averrhoer, nên cây khế được gọi bằng tên của ông. Theo ông, khế có thể chữa bệnh ngứa, viêm họng, ho, viêm tuyến nước bọt, đau khớp, làm thuốc ra mồ hôi, giảm mỏi mệt…

Theo y học cổ truyền: Quả khế vị ngọt tính bình, hơi mát. Quả chín thì hơi ôn có tác dụng sinh tán dịch, giải khát, lợi tiểu, trị phong nhiệt, giải độc. Vỏ khế cũng có tác dụng làm thuốc nhất là với bệnh dị ứng, mẩm ngứa…

Theo kinh nghiệm dân gian thì khế là một thuốc lành được dùng rất rộng rãi và có tác dụng rất tốt với nhiều bệnh:

1. Dị ứng sơn ta:
Dị ứng với sơn ta khi tiếp xúc hoặc chỉ đi qua thôi, hoặc mới ngửi người đã mẩn ngứa, sưng đau thậm chí lở loét, chảy nước.

Cách dùng:
• Quả khế thái lát hoặc giã nát đắp lên chỗ da bị dị ứng.
• Lá khế tươi một nắm, rửa sạch giã lấy nước uống.
với dị ứng sơn ta thì đây gần như là cách chữa hiệu quả nhanh, đơn giản đỡ tốn kém nhất.

2. Dị ứng với thời tiết (dân gian gọi là ma tịt) gây mẩn ngứa mày đay:
• Vỏ khế tươi (bỏ lớp vỏ ngoài) 50g sắc uống.
• Lá khế tươi sao nhẹ(dùng tay sao cho đủ độ không bỏng tay)xoa ngoài khi nguội lại sao.
Làm như vậy 2 đến 3 lần là sẽ khỏi.

3. Sởi ở trẻ nhỏ:
Lá khế tươi 20g, vỏ khế tươi(cạo vỏ)20g sao nhẹ rồi sắc cho trẻ uống. Khi sởi bay thì nấu nước lá khế cho trẻ tắm thì sẽ tráng được tái phát. (Nấu nước lá khế sôi rồi để ấm vừa tắm, không được pha nước lã).

4. Vết thương lở loét lâu khỏi:
Nấu nước lá khế đặc, rửa và thấm vào vết thương, ngày 2 đến 3 lần cho tới khi miệng lên da non (thời gian từ 3-5 ngày).

5. Chữa nước ăn chân :
Nướng khế xanh rồi cắt lát đắp đầy vào vết thương (không nóng hay nguội quá), ngày 2 lần (phải đắp 1 lần trước khi đi ngủ). Chú ý phải rửa chân sạch băng nước muối 9% trước khi đắp khế.

6. Chữa viêm bàng quang câp (đái nhắt, đái buốt, đái ra máu).
• Lá khế tươi 40-50g.
• Râu ngô hoặc rễ cỏ tranh hoặc mã đề tươi hoặc khô ( nếu tươi 200g, khô 400g) sắc uống nhiều lần trong ngày. Bài thuốc này uống 2-3 lần đã có tác dụng.

7. Chữa bí đái:
Khế 1 quả, tỏi một củ giã nhuyễn đắp vào rốn khoảng 20 phút sau có kết quả.

8. Chữa ho (khan hoặc có đờm):
Hoa khế tươi tẩm nước gừng sao nhẹ: 20g, cam thảo bắc 40g. Sắc lấy nước uống 2-3 lần, có thể pha như trà uống dần. Nhớ uống nóng.

9. Viêm họng, rát họng:
Lá khế bánh tẻ tươi 40g, một chút muối. Giã nhỏ vắt lấy nước cốt ngâm và nuốt hoặc có thể nhai chút lá khế với vài hạt muối cũng có tác dụng tương tự.

10. Cảm nắng(còn gọi là cảm thử): Có triệu chứng sốt, khát nước, đau đầu. Lá khế bánh tẻ tươi 100g, lá chanh tươi 40g, rửa sạch giã vắt nước uống. Bã đắp vào thái dương và gan bàn chân. Hoặc quả khế già (chưa chín nhưng không non)
nướng qua sắc nước uống.
Lưu ý: Người bị đau dạ dày không nên uống khi đói.

11. Dành cho người bị ung thư:
• Khế tươi hoặc chín 500g, giã lấy nước bỏ bả thêm đường đủ ngọt, đun sôi.
• Chuối táo tây bỏ vỏ thái miếng, thêm cam(lấy tép), nho(bỏ hạt), đun nhỏ lửa thêm bột sắn dây vừa đủ, nấu ăn ngày 1-2 lần. Ăn khi còn ấm, có tác dụng hỗ trợ khi bệnh nhân ung thư bị sốt hoặc giảm được tác dụng phụ trong lúc hóa trị liệu.…

Dù ở thành phố hay nông thôn, nếu có điều kiện các ông bố, bà mẹ hãy trồng vài gốc khế, vừa đẹp lại vừa giúp bạn khi cần.


(Dược sỹ, Lương y Bùi Cửu Trường - Theo tạp chí Mẹ và Bé)

Thứ Sáu, 29 tháng 2, 2008

Ngày 29 tháng 2

Ai mà sinh ngày này thì nhớ là 4 năm mới có sinh nhật một lần. Người xưa cũng thật tài tình khi nghĩ ra cách tính lịch. Nhân ngày này nên tìm hiểu được một bài về nguồn gốc lịch số, đưa vào đây để tiện xem lúc cần.

NGUỒN GỐC CỦA LỊCH SỐ :

Nguyễn Cường


Hầu như dân ở các nước Việt, Hàn, Nhật, và Trung quốc nơi khai sinh ra khoa lịch số, đều biết nhiều hay nghe nói về âm lịch, dù có đang dùng Dương lịch như một tiêu chuẩn chung cho cả thế giới hiện nay. Thích hay không thì ít nhất đa số cũng đều chấp nhận chuyện ăn mừng tết Nguyên đán theo truyền thống dựa vào Âm lịch. Bởi vậy nên phần đông các cuốn lịch in ra trong các nước nói trên đều có phần ghi chú thêm ngày "Ta" đi kèm. Riêng đối với người Việt thì hình như nhà nào cũng thích có cuốn lịch thuộc loại tam tông miếu để treo tường, ngay cả trong những gia đình sống ở hải ngọai. Mục đích chính không phải vì thích coi theo ngày ta, mà nguyên nhân có lẽ là do từ tôn giáo và tín ngưỡng, biết ngày nào rằm hay mùng một để ăn chay (theo Phật gíao). Chỉ có một thiểu số ít hơn là dùng âm lịch thường xuyên để nghiên cứu hay áp dụng vào các bộ môn khoa học huyền bí, như lấy số tử vi hay coi ngày lành tháng tot cho chuyện làm đám cưới hỏi, khai trương công việc làm ăn v.v.

Hiện nay nghề làm lịch số của Trung quốc không còn giữ được bí mật theo kiểu cha truyền con nối như xưa, vì nhờ vào phương tiện in ấn dồi dào từ sách vở ghi chép còn sót lại để nghiên cứu. Hơn nữa, Âm lịch cũng không còn thực dụng, vì hầu như tất cả các quốc gia trên thế giới đang chính thức dùng Dương lịch. Dù vậy, hậu quả của việc bảo vệ bí mật trong mấy ngàn năm trước đây, cũng đã vô tình đánh mất đi cơ hội dành cho những thế hệ về sau này của Trung quốc, nghiên cứu và tìm ra vận hành của Thái dương hệ, trước Âu châu ít nhất là vài trăm năm!

Nếu tình cờ mỗi năm một lần, chúng ta thấy xuất hiện một từ quen thuộc gọi theo tên âm lịch của năm đó, như năm nay 2002 là Nhâm-Ngọ, hay năm tới 2003 là Quý-Mùi, thì dám chắc ai cũng đã ít nhất một lần thắc mắc, bằng cách nào và dựa vào đâu, các nhà lịch số Trung hoa phát minh ra những từ ngữ trên? Nói rõ hơn là mười (10) Thiên Can và mười hai (12) Ðịa Chi. Xin nhắc lại ở đây, 10 Can gồm: Giáp, Ất, Bính, Ðinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý.

Bài viết này sẽ dựa trên một vài dữ kiện kiểm chứng được của khoa học, để truy tìm lại phương pháp làm lịch mà các Chiêm tinh gia Trung hoa thời xưa có thể đã xử dụng. Bằng với tinh thần tôn trọng sự thật và học hỏi, người viết xin minh xác là những gì được trình bày sau đây có thể chưa được chính xác đúng hoàn tòan như đã xảy ra. Nhưng hy vọng sẽ là những ý tưởng khởi đầu, hay nếu có thể được, coi như là một đề nghị nghiên cứu thêm cho những vị có nhiều năng khiếu tự nhiên giỏi về các bộ môn Tử vi Lý số, để cùng làm sáng tỏ những gì đã bị hiểu nhầm là khoa học huyền bí.

Nội dung chính của bài viết này sẽ trình bày và giải thích tại sao, chỉ bằng mắt thường quan sát với phương tiện ghi chép còn thô sơ, các chiêm tinh gia Trung hoa đã tính được ra Thiên can, Ðịa chi và Lục Tuần Hoa Gíap, hay khái niệm về vận hành 60 năm trong âm lịch. Phần cuối của bài viết sẽ giải thích một vài điều thắc mắc về những bí ẩn của khoa Tử vi Ðẩu số.

Nguồn gốc Lịch số

Âm lịch (lunar calendar) hay việc soạn thảo lịch số dựa vào vận hành của mặt trăng không phải bắt đầu từ Trung hoa như nhiều người lầm tưởng. Theo dữ kiện có được từ các nhà khảo cổ với bằng chứng rõ rệt, thì nền văn minh Sumerian, phát triển bên cạnh con sông Tigri s cách đây hơn 6000 năm (khoảng từ năm 5000-4000 BC, để sau này thành trung tâm của xứ ngàn lẻ một đêm, hay ngày nay còn gọi là Baghdad, thủ đô của Iraq) đã biết làm lịch dựa vào vận hành của mặt trăng. Ðế quốc La mã ngay trong thời trước Julius Cesar ( 40 BC ) cũng dùng loại Âm lịch này. Chọn mặt trăng để làm lịch có thể bởi hai lý do: Dễ nhìn vì ánh trăng ban đêm không nóng gay gắt và khó nhìn như mặt trời ban ngày. Thay đổi hình dạng thường xuyên từ khuyết tới tròn dễ thấy hơn là mặt trời hầu như ít khi thay đổi. Tuy nhiên, còn một lý do khá quan trọng khác ít người nghĩ đến, là do yếu tố thiên nhiên. Xứ Ai cập (Egypt) nằm ngay trên đường Phân cực Hoàng đạo (Tropic of Cancer, khoảng 23°27 từ xích đạo) nên đa số nhiều người đã thấy được hiện tượng mặt trời chiếu thẳng trên đỉnh đầu. Nghĩa là trong khoảng từ 20 tháng 3 đến 20 tháng 9, nếu cắm một cái cọc thật thẳng đứng, sẽ thấy bóng của cây cọc nhập trùng ngay dưới gốc của nó vào lúc 12 giờ trưa, ít nhấtlà trong vài ngày (Chỉ những nước nằm giữa đường xích đạo và Bắc bán cầu trong khoảng Vĩ tuyến từ 0 - 23°27 mới thấy được hiện tượng trên. Ngược lại, trong vùng Nam Bán cầu thì khoảng từ 20 tháng 9 đến 20 tháng 3). Nhờ quan sát hiện tượng đó, dân Ai cập cách đây khoảng hơn 4000 năm đã tính ra gần đúng số ngày trong năm (365 thay vì 355 như Âm lịch), và cũng chính là lý do họ chọn làm lịch theo mặt trời, lưu truyền Dương lịch cho đến bây giờ!

Các thủ đô của Trung hoa như Trường An hay Bắc kinh, vì nằm trong vùng ôn đới cách xa trên đường Phân cực (Tropic of Cancer) nên không thấy được hiện tượng nói trên, cũng như không có ấn tượng nhiều về mặt trời, và cũng là lý do dể hiểu tại sao họ đã dùng mặt trăng để làm lịch.

Theo đúng như trong sử Trung hoa ghi lại thì khoa Lịch số đã có từ thời Hoàng Ðế, cách đây hơn 4000 năm, do các chiêm tinh gia soạn ra (nghĩa nguyên thuỷ là nhà thiên văn hay chuyên gia coi sao trên trời, không phải bị biến nghĩa ra thành "thầy bói toán" như về sau này!) chiêm tinh gia biên soạn lịch số để định chuẩn thời gian cho việc hành chánh và cai trị của triều đình Vua quan, nhưng đồng thời cũng giúp rất nhiều cho nghề nông trong việc tiên đóan thời tiết hay thu hoạch mùa màng. Chắc chắn trong giai đoạn đầu khi mới có cho đến khoảng sau thời Hán Cao tổ, âm lịch cũng không tránh khỏi nhiều sai lầm, nhất là rất đơn sơ và chưa có Thiên can hay Ðịa chi như sau này. Bằng chứng là trong thời kỳ phát triển của Chu Dịch (1150 - 500 BC) cũng chưa nghe nói đến. Phải đến thời "TamQuốc" của Khổng Minh (Gia cát Lượng) vào khoảng 200-300 AD thì mới có văn tự rõ rệt nói về các Thiên Can, đồng thời xuất hiện các khoa lý số như Kỳ Môn Ðộn Giáp, Thái ất Thần toán, hay Lục Nhâm Ðại Ðộn v.v. Hầu hết các sử gia Trung quốc đều công nhận là chỉ vào thời kỳ của Nhà Hán, sau mấy trăm năm chiến tranh liên miên từ thời Ðông chu Liệt quốc, nền văn minh Trung hoa mới thật sự khởi sắc và đi lên trong Thiên niên kỷ đầu tiên (0 -1000 AD).

Theo chính sử ghi lại, những nghiên cứu và phát minh của Trung hoa thật sự đã bắt đầu từ thời Tần thủy Hoàng, khi vị Hoàng đế tài giỏi nhưng tàn bạo này, có thể động viên hay chiêu dụ được nhiều đạo sĩ (coi như là khoa học gia theo tiêu chuẩn thời đó), trong việc thám hiểm, đi tìm kiếm các kỳ hoa dược thảo để luyện thuốc trường sinh bất tử cho ông. Dưới nhận xét bình thường thì cho rằng đó là việc làm xa xỉ, hoang tưởng và mê muội. Nhưng trong lãnh vực nghiên cứu khoa học ngày nay, Tần Thủy Hoàng rất xứng đáng được coi như đã có công sáng lập một cơ cấu kiểu Hàn lâm Viện khoa học đầu tiên cho nhân lọai! Những chi phí trong việc chiêu đãi hay thưởng công cho các đạo sĩ thời đó, dưới cái nhìn thiếu hiểu biết cholà phung phí, nhưng so với tỷ lệ ngân sách dành riêng cho khảo cứu khoa học ngày nay thì chẳng có nghĩa lý gì cả, dù là của một nước đang phát triển! Chính nhờ làm việc và sống chung tập thể với nhau đó, đã vô tình tạo ra môi trường tốt đẹp cho những sáng kiến mới, thi đua học hỏi, trao đổi kiến thức giữa các đạo sĩ với nhà vua, và có thể đã là cơ sở đóng góp cho nhiều phát minh quan trọng về khoa học và kỹ thuật sau này của Trung quốc. Hoá chất Lưu huỳnh dùng để làm thuốc súng, than đá, thủy ngân, chì, nam châm có từ tính, cách luyện thép, bàn tính (abacus), v.v. có thể đã được bắt đầu nghiên cứu hay tìm ra trong thời kỳ này. Thí dụ về những huyền thoại phù phép mà Khổng Minh xử dụng, là do những phản ứng đặc biệt từ các hoá chất độc hại như lưu huỳnh, thuỷ ngân hay các loài dược thảo trộn chung với nhau khi bị đốt cháy. Kết qủa là làm cho đối phương bị gây mê, mất trí hay mạng vong trong những vùng gọi là bát qúai trận đồ. Nhưng một trong những thành quả tốt đẹp hơn hết chính là bộ môn xem thiên văn khí tượng bắt đầu xuất hiện được nhiều người biết đến. Nhờ vậy mà khoa lịch số đã được hiệu chỉnh, thay đổi đúng hơn cho tới bây giờ!

Phương pháp soạn Âm lịch

Có thể chia ra làm hai giai đọan phát triển chính choviệc soạnthảo âmlịch.

Giaiđoạn I: Kéo dài khoảng gần 2000 năm từ thời Hoàng đế cho đến thời Khổng tử. Trong giai đoạn này chỉ có ngày, tháng và năm. Chưa có chia ra giờ cũng như chưa có thiên can và địa chi. Công việc soạn lịch vào thời sơ khai này rất là dễ hiểu, không có gì phức tạp như nhiều người thường lầm tưởng. Những chiêm tinh gia thời đó chỉ dựa vào khoảng cách giữa hai tuần trăng tròn để tính số ngày cho một tháng. Khoảng cách của một năm thì được định bằng thời điểm vào lúc Trăng tròn nhất, khoảng ngày rằm tháng 8 (sau này thành ra tết Trung thu), và một phần dựa vào thời tiết thay đổi của 4 mùa.

Khó khăn duy nhất lúc ban đầu là cứ cách khoảng chừng hai năm thì tháng có trăng tròn nhất bị kéo dài thêm một tháng. Ðó là những tháng nhuận, và cách giải quyết thực tế đơn giản lúc bấy giờ là thêm nguyên một tháng vào những năm nhuận. Còn làm sao họ biết được năm nào nhuận là do phỏng chừng và dựa vào kinh nghiệm riêng của những đời trước theo kiểu cha truyền con nối. Chính cách làm theo lối thuận tiện như trên, nên âm lịch thường bị thành kiến cho là thiếu chính xác! Có thể trong thời kỳ này, tháng nhuận chỉ được thêm vào trong tháng trước tháng có trăng tròn nhất là tết Trung thu(?) Chỉ sau này khi bắt đầu ăn mừng ngày tết Nguyên đán và để không bị sai ngày quá xa, nên những nhà soạn lịch phải chia ra cho đều, thêm tháng nhuận vào các tháng khác.

Ngoài ra có vài chi tiết cần được để ý là hệ thống Âm lịch dựa vào thiên can và địa chi chỉ có phân biệt tối đa là 60 năm, nên nếu muốn viết lịch sử, họ thường dùng năm cai trị của Vua hay triều đại làm chuẩn. Thí dụ như trong sách thường viết là năm thứ mấy đời Vua nào đó gặp thiên tai bão lụt v.v. Lâu dần trở thành thói quen dùng luôn cho đến khi bị ảnh hưởng của nền văn minh Tây phương thay đổi.

Về giờ giấc, lịch số ở thời kỳ đầu cũng chưa chia ra 12 giờ như sau này. Ðể định giờ, họ dùng cách nói phỏng chừng theo vị trí của mặt trời, mà mãi cho đến bây giờ, nông dân ít học ở các vùng quê vẫn còn dùng, như khi nói mặt trời vừa lên quá ngọncây (khoảng 8 đến 9 giờ sáng mùa hạ), hay mặt trời đứng bóng giữa trưa khoảng 12 giờ v.v.

Những gì vừa trình bày có thể kiểm chứng bằng bộ sách Chu dịch đã được soạn ra khoảng từ thời nhà Chu (1150 BC) cho đến thời Khổng tử (550 BC). Cụ thể là việc lập quẻ Dịch. Trong bộ Chu Dịch chính bản chỉ ghi cách lập quẻ duy nhất là dùng cỏ Thi, còn gọi là phép bói cỏ Thi, mà không dùng đến giờ nào như Khổng Minh dùng để bấm độn sau này. Các lời bàn của 64 quẻ trong bộ Chu Dịch nguyên thuỷ hoàn toàn không có nói rõ về giờ giấc.

Giai Ðoạn II: Từ thời Khổng tử cho tới nhà Ðường khoảng chừng 1000 năm. Thời kỳ này văn minh Trung hoa bắt đầu khởi sắc đi lên. Các Ðạo sĩ hay Chiêm tinh gia làm việc có phương pháp và khoa học hơn. Nhờ vậy, họ đã tìm ra hay khám phá được chu kỳ vận chuyển của các hành tinh trong Thái Dương hệ, và từ đó âm lịch mới được thay đổi để thêm vào Thiên can, Ðịa chi, Lục tuần Hoa giáp (hay chu kỳ 60 năm). Trước khi đi sâu vào chi tiết, và để quý đọc giả dễ theo dõi vấn đề hơn, người viết xin nhắc lại một vài dữ kiện căn bản như sau:

Trong những đêm tốt trời không mây, nếu dùng mắt thường chúng ta có thể đếm được cả vài trăm ngôi sao là chuyện thường. Tuy nhiên, tất cả đều thấy gần như cố định không thay đổi theo năm tháng, vì không phụ thuộc vào một hệ thống vệ tinh như Thái dương hệ, hoặc giả có chu kỳ di chuyển quá lớn đến cả ngàn vạn năm. Còn lại, trừ trường hợp đặc biệt như sao chổi (Comet) và sao băng (Asteroid), chúng ta chỉ thấy được những hành tinh thuộc Thái dương hệ di chuyển mà thôi. Trong tám (8) hành tinh chính, trừ mặt trời và mặt trăng, mắt thường của chúng ta chỉ thấy được có năm(5) hành tinh. Ðó là Thủy tinh (Mercury), Kim tinh (Venus), Hỏa tinh (Mars), Mộc tinh (Jupiter), và chót là Thổ tinh (Saturn). Ba (3) hành tinh không thấy được bằng mắt thường là Diêm vương tinh (Uranus), Hải vương tinh (Neptune) và Thiên vương tinh(Pluto). Không biết có phải là trùng hợp ngẫu nhiên của tạo hóa, hay sắp đặt khéo léo của con người, trong 8 quái (Bát quái hay 8 hành?) của Dịch lý, các "Khoa học gia" thời đó chỉ thấy được có 5 quái: Ðịa, Sơn, Thủy, Lôi, và Hỏa, nên phát minh ra Ngũ hành (Người viết đã trình bày trong bài "Những khám phá mới về Dịch lý và Ngũ hành" cách đây hơn hai năm.)

Ðể tìm hiểu về 5 hành tinh thấy được chuyển động như thế nào, các Chiêm tinh gia thời đó đã dùng một phương pháp đơn giản nhưng rất khoa học, là ghi chép lại vị trí của các hành tinh sau một thời khoảng nhất định. Thời điểm tốt nhất để xem thiên văn là mỗi tháng một lần vào cuối hay đầu tháng, lúc trăng hoàn toàn bị che mất (đêm 29, 30 hay 1). Muốn định rõ vị trí của các sao, có lẽ họ cũng biết dùng theo phương pháp chấm tọa độ, nhưng kém chính xác rất nhiều. Dùng sao Bắc đẩu làm chuẩn và theo đồ hình Bát quái, họ có thể định phương vị (hay khẩu độ) của một sao, và kế đến là cũng theo lối ước chừng độ cao của mặt trời để định khoảng cách từ đường chân trời. Thí dụ như để định vị ngôi sao ở 220 độ từ hướng Bắc (theo chiều kim đồng hồ) và 25 độ cách chân trời nằm ngang, họ có thể nói là nằm ở giữa cung Khôn (hướng Tây-Nam) cách chân trời khoảng một gang tay chẳng hạn. Về sau để được chính xác hơn, cóthể các chiêm tinh gia đã dùng đến các tên của quẻ dịch để phân chia thành 64 cung trên vòng tròn. Ðó chính là lý do tại sao các nhà nghiên cứu về sau có thể hiểu lầm vì bị nạn "tam sao thất bổn", nên tưởng là môn lịch số có nguồn gốc từ Dịch lý mà ra.

Dù bằng cách nào thì cũng nhờ khái niệm tuần hoàn và chu kỳ âm dương của Dịch lý, chiêm tinh gia thời đó có thể tin chắc là các vì sao đều chuyển động theo một chu kỳ nhất định nào đó. Nếu không thì có lẽ họ không bỏ thì giờ quá lâu cho cả một đời người để tìmra gần đúng chu kỳ của 5 hành tinh trong Thái dương hệ, trước Âu châu cả hơn ngàn năm!

Kết quả công trình nghiên cứu và ghi chép vị trí sao của các Chiêm tinh gia Trung hoa nói trên cho thấy là cứ mỗi 60 năm thì cả 5 hành tinh đều quay trở về lại gần vị trí cũ ! Ðặc biệt hơn hết, là vào khoảng cuối năm Quý Hợi và đầu năm Giáp Tý thì cả 5 hành tinh đều hội tụ lại, và nằm sát với nhau chung một hướng. Xin nhắc lại đây để tránh hiểu nhầm, nhờ tình cờ ngẫu nhiên quan sát thấy hiện tượng 5 sao tụ hội về một chỗ trước khi phân tán ra, nên có thể các nhà lịch số cho rằng đó là khởi điểm đầu tiên cho chu kỳ 60 năm, và họ đặt tên cho năm có hiện tượng đó là Giáp Tý, đứng đầu trong bảng lục tuần hoa giáp.

Sau đây là bảng tóm lược số vòng chu kỳ quay quanh mặt trời của 5 hành tinh, dựa theo thời gian một (1) năm của trái đất làm chuẩn:



Thời gian tính theo Trái đất làm chuẩn Chu kỳ 1 vòng


Ngày (Năm )
Số Chu kỳ trong 12 Năm
Số Chu kỳ trong 30 Năm
Số Chu kỳ trong 60 Năm

Trái Ðất-Earth
365.3 (1.00)
12.000
30.000
60.00

Thủy tinh Mercury
88.0 (0.241)
49.814
124.534
249.06

Kim Tinh
Venus
224.7 (0.615)
19.508
48.772
97.54

Hỏa Tinh
Mars
687.0 (1.881)
6.381
15.951
31.90

Mộc Tinh
Jupiter
4331.8 (11.858)
1.012
2.530
5.060

Thổ Tinh
Saturn
10760.0 (29.455)
0.407
1.018
2.037

Dựa vào bảng tính toán chu kỳ ở trên cho thấy có một vài chi tiết cần chú ý: Sau khoảng chừng 20 năm thì các sao tụ về tại một vị trí khác, và phải sau gần 60 năm của trái đất, thì cả bốn (4) sao Thủy tinh, Hỏa tinh, Mộc tinh, và Thổ tinh mới quay về gần đúng vị trí đầu tiên hay xê xích một chút. Khoảng cách sai số sau 60 năm là từ 10 đến 30 cung độ (arc), do các số lẻ thứ nhất của số chu kỳ trong 60 năm đều nằm trong giới hạn của 0 - 0.1 hay 0.9 - 1.0 theo vòng tròn (360 độ) của mặt trời. Ðối với người quan sát các hành tinh đứng từ vị trí trên trái đất và ở một gốc độ chéo, thì chắc sẽ nhìn thấy khoảng cách hay độ xê xích nhỏ hơn rất nhiều, hoặc có thể không thấy được độ sai biệt bằng mắt thường! Riêng trường hợp của Kim tinh (Venus) tuy nằm gần như đối diện với vị trí cũ (số lẻ 0.54), nhưng chu kỳ quay chung quanh mặt trời chỉ có chừng hơn 7 tháng, nên chỉ cần thêm khoảng 4 tháng (cũng còn trong 1 năm của trái đất) là quay vòng trở lại để hội tụ cùng các sao.

Như vậy, với một vài bằng chứng ở trên có thể tạm kết luận rằng: Chuyện các chiêm tinh gia Trung hoa cách đây hơn 1000 năm đã tìm ra chu kỳ gần đúng của 5 hành tinh là sự thật hiển nhiên rất dễ hiểu theo khoa học. Hình vẽ thứ hai sau đây cũng để minh chứng cụ thể cho thấy vị trí của 5 hành tinh vào tháng 2 năm 1984 (dương lịch, âm lịch là 30 tháng Chạp năm Quý Hợi, gần tết Nguyên đán) theo cách tính đúng qũy đạo chính xác của khoa học ngày nay.

Tuy nhiên cũng xin lưu ý và nhấn mạnh một lần nữa là do sự trùng hợp ngẫu nhiên đưa đến, không phải cứ 60 năm là các sao phải tụ về ở cùng một phương vị giống như vậy. Lý do là vì các sai số khoảng 0.06 cho Mộc tinh và 0.037 cho Thổ tinh như đã nói, nên phương vị của các sao tụ hội lại cũng thay đổi xê xích một chút sau khoảng 60 năm. Muốn các sao tụ hội về cùng phương vị gần giống như cũ phải mất khoảng 1600 năm, hay gần 27 lần của chu kỳ 60 năm! Nhưng dù vậy cũng chỉ gần đúng mà thôi. Nghĩa là trong thực tế không hề có sự trùng nhập lại giống y hệt như cũ được!



(Chú thích: Mercury bị che bởi Venus và Mars nên không thấy trong hình)

Nhân đây cũng nên nhắc đến một sự kiện lịch sử có ảnh hưởng rất nhiều đến vận mệnh của cả nước Việt nam. Do bởi các vua chúa Trung hoa thời bấy giờ vì quá tin vào lập thuyết của các chiêm tinh gia, cho rằng một khi các tinh tú đều chầu về một phương nào thì nơi đó tụ hội được nhiều linh khí, nghĩa là có "Thánh nhân" hay bậc đế vương sinh ra đời! Bởi vậy nên tính ra trong khoảng 400 năm ( 400 - 800 AD) vào thời nhà Ðường, các Sao đều chầu về phương Nam ( gần giống như hình vẽ trên ), làm cho họ phải lo sợ. Từ nguyên nhân đó, mới có việc sai phái đạo sĩ Cao Biền làm Thái thú để tìm cách trấn yểm phương Nam. Ngoài ra sau này họ cũng thường gởi các "Gián điệp" giả dạng đội lốt tu sĩ hay thầy Ðịa lý và thầy thuốc bắc để dò tìm nhân tài của Việt nam. Một khi phát hiện được nơi nào có "thần đồng" hay thiếu niên giỏi chữ là họ tìm đến để thử tài và tìm hiểu. Nếu đúng thì bằng nhiều cách như dụ dỗ, mua chuộc nếu cha mẹ nghèo, xin cho làm con nuôi để "dạy dỗ và huấn luyện chữ nghĩa v.v. Ðó là lý do tại sao trong những câu chuyện kể về các vị thần đồng Nho học của Việt nam thời xưa, thường nói tới việc có những người "khách lạ" tìm đến để ra câu đối và thử tài thông minh!

Nếu những gì nói trên đúng theo thuyết của các chiêm tinh gia Trung hoa, thì trong số những đứa trẻ sinh năm 1984-85 ở Việt nam sẽ cho ra nhiều thiên tài xuất chúng ngoại hạng trong tương lai (!?) Ðúng hay sai thì chưa biết, nhưng ứng nghiệm vào các quốc gia thuộc vùng Ðông nam A¨ thịnh vượng giầu có hơn trong vòng 20 năm qua, và dĩ nhiên kết qủa là sẽ cho ra nhiều trẻ em thần đồng nhờ được nuôi dưỡng huấn luyện và giáo dục trong môi trường tốt hơn!

Nói chung với cách tính phỏng chừng và đơn giản dựa vào ba sao là: Hỏa tinh (Mars) có chu kỳ gần 2 năm, Mộc tinh (Jupiter) có chu kỳ khoảng 12 năm, và Thổ tinh có chu kỳ gần 30 năm, các nhà làm Lịch số đã tìm ra mẫu số chung gần đúng là 60 năm để cả ba sao tụ hội lại gần nhau, và có cùng chung một cung, hay cùng phương vị theo bát quái (mỗi cung khoảng 45°.)

Ðiều cần biết thêm ở đây chính là chu kỳ gần 2 năm của sao Hỏa (Mars), nghĩa là cách khoảng một năm thì các chiêm tinh gia thấy sao hỏa nằm ở vị trí hướng đối ngược lại. Do hiện tượng trên trùng hợp với lý thuyết về Dịch hay luật âm dương, nên có thể các nhà lịch số tin rằng thời gian cũng giống như vậy là cứ một năm Dương một năm Âm thay đổi đều nhau!

Mộc tinh (Jupiter) là sao quan trọng nhất có chu kỳ gần đúng 12 năm. Quan trọng theo các nhà Lịch số thời bấy giờ có thể từ hai lý do. Thứ nhất, đó là sao duy nhất để phân biệt và chuẩn định sự khác biệt của các năm. Thổ tinh (Saturn) vì xa và khó thấy hơn, nhất là chu kỳ đầu tiên quá lâu và có tới gần 30 năm không chính xác bằng Mộc tinh. Riêng Hỏa tinh thì lại càng không chính xác vì chu kỳ quá ngắn chỉ có khoảng gần 2 năm. Thứ hai, dựa vào kinh nghiệm tích lũy từ quan sát và thực nghịêm của các chiêm tinh gia theo lối cha truyền con nối có thể đã kéo dài trong vài trăm năm, sau Mặt trời và Mặt trăng, Mộc tinh có ảnh hưởng nhiều nhất đối với con người và Trái đất (sẽ giải thích thêm ở mục Tử Vi). Chính vì vậy, họ đã dùng chu kỳ 12 năm của Mộc tinh để đặt tên cho 12 năm, còngọi là Thập nhị Ðịa chi. Dám chắc mới đầu chỉ có tên bằng con số 1, 2, 3, 4,...12. (Nếu để ý thì thấy các số lẻ 1, 3, 5...thuộc số Dương, số chẳn 2, 4, 6... là số Âm, phù hợp với Dịch lý đã nói ở trên). Còn tại sao sau này lại có tên của 12 con vật là Tý, Sửu, Dần...v.v, thì lại thuộc một vài lý do khác không nằm trong phạm vi bài viết này, nên xin miễn bàn ở đây. Nói chung, yếu tố quan trọng là nhờ vào quan sát thực nghịêm, một phương pháp thông dụng trong nghiên cứu khoa học.

Sau cùng, có lẽ các chiêm tinh gia cũng chỉ thấy có sao Thổ tinh là có chu kỳ lâu nhất trong 5 hành tinh, nên theo trình độ hiểu biết thời bấy giờ, họ cho rằng đó là vị thần chính của nhà Trời ảnh hưởng đến mọi sự sắp đặt và thay đổi của "Thượng đế", nên gọi là Thiên Can (?). Nhưng tại sao là 10 mà không là 5, vì 5 nhân 12 mới bằng 60? Hỏi vậy là xem thường khả năng về Toán của chiêm tinh gia! Nếu chỉ dùng 5 số Thiên can ghép với 12 Ðịa chi sẽ bị trở ngại ngay, nhất là không giải quyết được nguyên tắc Âm Dương, một năm Dương và một năm Âm đi liền với nhau như đã giải thích về chu kỳ của sao hỏa ở trên. Ðể giải tỏa vấn nạn đó, các chiêm tinh gia buộc phải dùng gấp đôi con số 5 lên thành 10, tuy vẫn duy trì 5 đặc tính Ngũ hành của Thiên can. Bởi vậy cho nên bây giờ chúng ta mới có hai Can đi liền với nhau có cùng chung một Hành (theo thuyết Ngũ hành), và có một Dương và một Âm. Thí dụ như Giáp với Ất (hành Mộc), Bính với Ðinh (Hỏa), Mậu với Kỷ (Thổ), Canh với Tân (Kim) và Nhâm với Quý (Thủy).

Ngoài ra, do ảnh hưởng của thuyết Ngũ hành, việc đặt hay gọi tên 5 hành tinh theo Ngũ hành là hoàn tòan dựa vào màu sắc khi nhìn bằng mắt thường, và không có liên hệ gì với đặc tính vật lý. Theo lý thuyết của Ngũ hành về màu sắc, gọi là Mộc tinh vì có sắc xanh. Hỏa tinh vì có sắc đỏ như lửa. Thổ tinh vì có sắc vàng, Kim tinh (Venus) vì có sắc trắng do có độ sáng mạnh, và Thủy tinh (Mercury) có sắc đen vì quá gần mặt trời nên không thấy được sán glắm!

Tóm lại hệ thống Âm lịch dựa vào các hành tinh chính sau: Mặt trời để định Giờ và Ngày, Mặt trăng dùng cho Tháng, Mộc tinh (Jupiter) dùng cho Năm hay 12 Ðịa chi, và sau cùng Thổ tinh (Saturn) và Hoả tinh (Mars) dùng để định Thiên can (Âm hoặc Dương) và Ðại Chu kỳ 60 năm hay Lục Tuần Hoa Giáp. Ghi nhận thêm ở đây là theo ăm lịch, mỗi tháng chia ra làm 3 tuần, có khoảng từ 9 đến 10 ngày, gồm: Thượng, Trung, và Hạ tuần. Về sau này thì các nhà soạn lịch tính và thêm vào các ngày đặc biệt như Ðại hàn, Tiểu hàn, Lập đông, Hạ chí v.v

Những Bí ẩn của khoa Tử vi

Trong suốt hơn một ngàn năm, bộ môn Tử vi được coi như là khoa học huyền bí bởi tất cả các yếu tố an sao và giải đóan đều dựat heo một vài công thức định trước, mà không có sự giải thích hay chứng minh lý do tại sao. Dù tin hay không tin, thực tế cho thấy khoa tử vi cũng đã được lưu truyền trong dân chúng khá lâu, và ít nhất cũng đã có một số người chấp nhận, nghĩ rằng có thể dùng để đoán được phần nào vận mệnh tương lai của con người! Ðiều đáng ngạc nhiên là nếu đúng theo dữ kiện cho thấy, khoa Tử vi hiện tại này chỉ còn có Việt nam là đất dụng võ, dù có nguồn gốc từ Trung hoa. Ngay cả các sách viết về Tử vi ở Trung hoa cũng có nhiều, nhưng họ không thích xài Tử vi mà lại chọn các môn khác thông dụng hơn như Tử Bình (gọi tắt là Bát tự có 8 chữ, lấy số theo hàng Can và Chi của Năm, Tháng, Ngày và Giờ). Một lý do có thể giải thích là vì sau này họ đã khám phá và thấy được rằng, vận hành của các sao không được chính xác như đã tin tưởng lúc ban đầu!

Những gì được người viết phát hiện và trình bày sau đây cho thấy vài đặc tính khoa học của bộ môn Tử vi. Trần Ðoàn (được coi như ông tổ sáng chế ra Tử vi) hay các vị thầy tiền bối của ông vào khoảng thời nhà Ðư&
Ngày (Năm )
Số Chu kỳ trong 12 Năm
Số Chu kỳ trong 30 Năm
Số Chu kỳ trong 60 Năm

Trái Ðất-Earth
365.3 (1.00)
12.000
30.000
60.00

Thủy tinh Mercury
88.0 (0.241)
49.814
124.534
249.06

Kim Tinh
Venus
224.7 (0.615)
19.508
48.772
97.54

Hỏa Tinh
Mars
687.0 (1.881)
6.381
15.951
31.90

Mộc Tinh
Jupiter
4331.8 (11.858)
1.012
2.530
5.060

Thổ Tinh
Saturn
10760.0 (29.455)
0.407
1.018
2.037

(nguồn thuvienvietnam.com)

Thứ Hai, 7 tháng 1, 2008

Mẹo chữa bệnh bằng hành tây

Lại học nữa nhé:

Vào mùa lạnh, bạn hay bị tắc mũi, khó thở do cảm cúm. Có thể khắc phục bằng cách cắt một lát nhỏ hành tây rồi ngửi thường xuyên, hoặc đưa vào mũi.

Hành tây rất giàu selen (rất tốt cho da, móng và tóc), và quexetin (giúp chống ôxy hoá rất mạnh). Hai chất này kết hợp giúp khử các gốc tự do, nguyên nhân gây lão hóa. Ngoài ra, hành tây cũng rất giàu kali, vitamin C.

Hành tây giúp hạ huyết áp, làm vững bền thành mạch, giúp ngăn ngừa xuất huyết não. Loại củ này chứa chất kháng sinh phytonxit nên có tác dụng chữa ho, trừ đờm. Hành tây cũng có ích cho người mất ngủ, tiêu hóa kém.

Khi dùng ngoài, hành tây có thể trị áp xe, chín mé, mụn nhọt, mụn cóc. Nó cũng được khẳng định là một loại viagra tự nhiên hiệu quả. Sau đây là một số mẹo nhỏ chữa bệnh từ loài rau này:

Tiêu chảy: Vỏ lụa hành tây 1 nắm, đun nước uống trong ngày.

Giải cảm: Hành tây cắt nhỏ cho vào nấu chín, uống lúc còn nóng, hoặc cho vào cháo ăn nóng, giúp mồ hôi và giải nhiệt nhanh.

Đuổi muỗi, chữa khó ngủ: Đặt một vài lát hành thái nhỏ bên cạnh khi ngủ.

Hành tây và các "họ hàng" của nó như tỏi, tỏi tây và hẹ tây rất giàu hợp chất phytonutrient, tuy có tác dụng bảo vệ tim nhưng lại gây hại cho dạ dày. Vì vậy, những người mắc bệnh dạ dày cần nấu chín để khử hợp chất này.

Một số mẹo vặt trong bếp với hành tây

Khử mùi: Dùng cọng hành tây cho vào nồi cơm bị khê khi còn nóng, đậy nắp lại, mùi khó chịu này sẽ biến mất. Hoặc khi nhà có mùi sơn nồng nặc, đặt miếng hành tây bên cạnh, mùi của hành tây hết và mùi sơn cũng hết.

Cho hai cọng hành tây vào xì dầu hoặc giấm để giúp chúng không bị mốc.

Làm sạch đồ dùng nhà bếp bằng cách lấy rễ hành tây chà bề mặt đồ dùng bám dầu mỡ; đặc biệt với đồ đồng, thiếc sẽ rất sáng đẹp.

Lau cửa kính: Cắt đôi củ hành tây, lấy mặt cắt chà lên cửa kính. Sau đó, dùng vải khô lau thật nhanh trước khi nước hành khô, mặt kính sẽ bóng loáng như mới.

Ngăn ruồi đậu lên thức ăn: Rửa sạch thực phẩm, để ráo nước, đặt vài cọng hành tây đã rửa sạch lên trên, ruồi sẽ tránh xa.

Xử lý dao bị gỉ: Cắt đôi củ hành tây, chà mặt cắt lên phần dao gỉ, vết gỉ sét sẽ biến mất.

Lưu ý khi đi tắm

Hôm nay đọc bài về việc tắm (trên báo ĐT Dân Trí) mới biết lâu nay mình tắm mà chẳng theo bất cứ nguyên tắc nào. Thế mới biết, cái gì cũng phải học cả.

Những lưu ý khi đi tắm

(Dân trí) - Ai cũng phải tắm. Tắm lúc nào cũng mang lại lợi ích tích cực cho sức khỏe con người. Tuy nhiên, tùy vào mục đích mà bạn nên chọn thời điểm tắm cũng như nhiệt độ nước khi tắm để đạt hiệu quả cao nhất.

Tắm trong bao lâu?
Nếu là tắm dưới vòi sen, bạn chỉ cần tắm khoảng 10 phút là đủ.
Nhưng nếu tắm bồn, thì nên ngâm người trong bồn tắm 3-5 phút, sau đó bước ra nghỉ ngơi 1 chút rồi lại vào bồn. Lặp lại 2-3 lần như vậy có thể khiến cho cơ thể duy trì được trạng thái tốt nhất.

Thời điểm tắm tốt nhất?
Tắm sáng: Làm tăng sự tuần hoàn máu, giúp cơ thể sảng khoái.
Nên tắm trước bữa ăn sáng.
Nhiệt độ nước cần hơi nóng và thời gian tắm cần ngắn, nhanh (không cần dùng xà phòng) để đẩy hết những chất thải bẩn do chuyển hóa bài tiết ra trong khi ngủ.

Tắm tối: Làm đẹp cơ thể, loại bỏ chất bẩn; giúp cơ thể thư giãn, giảm stress.
Có thể tắm trước hoặc sau bữa ăn, thời gian tốt nhất là cách bữa ăn 2 giờ.
Thời gian tắm có thể kéo dài hơn.

Nhiệt độ nước như thế nào?
Nước lạnh (15 - 20oC)
Tác dụng: kích thích nhịp tim, chống lại sự căng thẳng, hạn chế lượng mồ hôi tiết ra quá nhiều, giảm bớt những vấn đề làn da nhạy cảm và làm rắn chắc các mô. Nó thực sự tốt cho những ai mắc căn bệnh về tuần hoàn máu.
Thực hiện: Hãy bắt đầu bằng nuớc có nhiệt độ ấm sau đó mới hạ dần nhiệt độ nước xuống tới nhiệt độ thích hợp. Để nước tiếp xúc với chân, tay trước rồi mới đến thân mình.
Hiệu quả: Tắm nước lạnh vào buổi sáng sẽ làm cho cơ thể săn chắc, giúp lưu thông máu. Còn tắm vào buổi tối sẽ làm hạn chế cơn buồn ngủ sớm.

Nước ấm (25 - 38oC)
Tác dụng:
+ 25 - 30ºC: kích thích đầu mút dây thần kinh, tăng cường trương lực cơ thể và chống lại hiện tượng viêm mô tế bào.
+ 26 - 38ºC: đây là nhiệt độ nước lý tưởng để xoa dịu các cơn đau mình mẩy và các chứng viêm khớp, làm dịu cơn đau của các chị em trong thời kỳ kinh nguyệt và tẩy sạch làn da
Thực hiện: Hãy bắt đầu ngay với nhiệt độ nước từ 30 - 32oC.
Hiệu quả: Tắm bằng nước ấm trước khi ăn tối giúp ngon miện và tạo giấc ngủ sâu còn tắm vào giữa ngày xua đi những mệt mỏi bất thường.

Nước nóng (38 - 40oC)
Tác dụng: loại bỏ căng thẳng; thư giãn cơ bắp; giúp ngủ ngon, thải loại độc tố.
Thực hiện: Bắt đầu nước ấm sau đó tăng dần nhiệt độ đến 37oC. Trước khi kết thúc, hãy tắm lại bằng nước ấm và dùng vòi sen phun nước lên tay và chân.
Hiệu quả: Tắm nước nóng vào buổi tối giúp bình tĩng lấy lại sự tự tin, còn vào buổi sáng sẽ đánh thức các hoạt động của cơ thể. Tuy nhiên nếu cơ thể mệt mỏi hay có vấn đề về tuần hoàn thì không nên ngâm mình quá 10 phút

Thứ Ba, 13 tháng 11, 2007

9 thực phẩm tốt cho mùa lạnh

Nếu ốm trong ngày lạnh, bạn nên ăn bát cháo gà nóng. Món ăn này giúp bạn chống lại sự mất nước, hơi nóng giúp mũi ấm và dễ thở hơn; thịt gà tăng sức đề kháng nhờ cung cấp selen và vitamin E.

Các món ăn sau cũng giúp bạn khỏe trong thời tiết khắc nghiệt của mùa đông:

Quả thuộc họ cam quýt:
Đây là những trái cây giàu vitamin C và bioflavonoid, những chất giúp chúng ta chống chọi với cái lạnh và bệnh cảm cúm.

Bí đỏ:
Là nguồn beta-caroten dồi dào, một trong những chất chống ôxy hóa mạnh, vốn được coi là vũ khí chủ lực của mùa đông. Beta-caroten là tiền vitamin A, sau này được cơ thể chuyển hóa thành vitamin A, có tác dụng phòng chống bệnh tật rất tốt.

Thực phẩm lên men:
Các thực phẩm lên men như yogurt, kefir rất tốt cho sức khỏe vì chứa các vi sinh vật có ích, giúp chống lại mầm bệnh.

Cá:
Cá là nguồn cung cấp dồi dào kẽm và omega-3, giúp cơ thể khỏe mạnh trong mùa Đông. Kẽm giúp tăng cường khả năng sản xuất các tế bào giúp chống viêm nhiễm, tăng cường sức đề kháng. Rất nhiều người mắc chứng thêm lượng axít béo omega-3 (có nhiều trong cá biển nhiều mỡ) trong bữa ăn hàng ngày.

Tỏi:
Tỏi có tác dụng kháng khuẩn, kháng virus mạnh, phòng chống viêm phổi rất hữu hiệu. Nhưng để đạt được hiệu quả đó, bạn phải ăn một lượng lớn và chưa qua chế biến (0,5 kg tỏi mỗi tuần hoặc 1/3 thìa cà phê bột tỏi/ngày). Những người đang sử dụng thuốc chống đông máu cần dùng tỏi theo chỉ dẫn của bác sĩ.

Nấm:
Những nghiên cứu mới đây cho thấy ăn nấm rất tốt cho hệ miễn dịch, giúp tăng cường sức đề kháng. Mỗi loại nấm lại có những công dụng khác nhau. Nấm cung cấp ít năng lượng, có thể ăn thoải mái mà không sợ tăng cân.

Sò:
Là nguồn cung cấp chất kẽm dồi dào, giúp cơ thể chống bệnh cảm cúm. Kẽm còn giúp làm lành các vết thương, tăng hưng phấn phòng the.

Trà:
Các nghiên cứu mới đây cho thấy 5-6 tách trà đen mỗi ngày sẽ giúp cơ thể kháng viêm nhiễm rất tốt.

(Theo Thời Trang Trẻ)

Lý do đeo nhẫn cưới ở ngón áp út

Từ lâu mình vẫn cứ thắc mắc là tại sao mọi người đều đeo nhẫn cưới vào ngón áp út. Hôm nay tìm được bài này trên báo Sài Gòn Tiếp Thị thế là bê nguyên vào đây. Quả thật cái gì cũng có lý do của nó. Nào, chúng ta cùng tìm hiểu nhé.

Lý do đeo nhẫn cưới ở ngón áp út

Bạn để hai bàn tay đối diện, gập ngón giữa lại và áp sát vào nhau rồi cho hai bàn tay mở ra nhưng các ngón còn lại chống vào nhau ở đầu mút ngón. Bạn sẽ thấy các ngón cái, trỏ, út đều dễ dàng tách ra nhưng riêng hai ngón áp út lại không thể rời.

Và đây cơ sở để người Trung Quốc đưa ra một cách giải thích rất thú vị và thuyết phục về lý do đeo nhẫn cưới ở ngón áp út.

Theo họ, ngón tay cái tượng trưng cho cha mẹ, ngón tay trỏ tượng trưng cho anh em, ngón giữa là chính bạn, ngón áp út tượng trưng cho người bạn đời, và ngón út tượng trưng cho con cái của bạn. Khi thử úp hai bàn tay theo kiểu đã nói ở trên, bạn sẽ thấy chỉ có ngón áp út là không thể tách nhau ra được. Đó là bởi cha mẹ bạn không thể sống suốt đời với bạn. Anh em cũng sẽ có gia đình riêng và sẽ rời xa bạn. Cuối cùng con cái bạn cũng vậy, chúng sẽ tạo dựng cuộc sống của riêng mình chứ không thể sống cùng bạn mãi mãi.
Còn với ngón áp út, bạn sẽ thấy ngạc nhiên khi không thể tách rời chúng ra khỏi nhau. Đó là vì bạn cùng người bạn đời được số phận mang đến với nhau để hòa quyện, gắn bó không thể tách rời suốt cả cuộc đời, cho dù tất cả thế giới này bỏ hai bạn ra đi và cuộc sống của hai người có trải qua bao thăng trầm, ngọt đắng đến thế nào đi nữa. Đó chính là lý do tại sao người ta lại đeo nhẫn cưới ở ngón áp út.

(Theo Sài Gòn Tiếp Thị)

Tiểu sử thú vị của bàn chải và kem đánh răng

Nhiều khoa học gia đã ví miệng con người như một sở thú, trong đó chen chúc cả vài trăm loại vi sinh vật lành dữ khác nhau, đặc biệt là ở phần sau của lưỡi.
Chúng sống nhờ thực phẩm còn sót lại ở răng miệng, tạo ra vài loại acid và mùi hôi. Acid ăn mòn men răng, dẫn tới sâu răng, rụng răng. Mùi sulfur làm miệng có mùi khó chịu khi nói, khi thở, khi “mi” nhau.
Từ xa xưa, loài người đã ý thức được ảnh hưởng xấu của thực phẩm còn kẹt lại ở răng miệng. Vì thế, sau khi ăn, người châu Á cũng như châu Âu, châu Phi vừa rửa tay, rửa mặt vừa súc miệng. Với một ngụm nước đầy, họ vận dụng mấy thớ thịt ở má làm cho nước nổi sóng, lách qua lách lại khe răng, loại hết thức ăn dính nơi đây. Dùng ngón tay trỏ, người ta chà tới chà lui hàm răng. Nhiều khi họ dùng khăn mặt hoặc một miếng vải nhỏ để lau răng.
Trung Hoa được coi như nơi khai sinh của bàn chải đánh răng đầu tiên trên trái đất, được làm với lông bờm ngựa gắn trên một cái cán bằng tre hoặc xương thú vật. Đó là vào khoảng năm 1498.
Năm 1780, một công dân người Anh, ông William Addis, thấy chà răng bằng miếng vải tẩm muối bất tiện. Ông ta bèn làm bàn chải bằng cách dùi nhiều lỗ nhỏ trên một miếng xương súc vật rồi luồn vào đó nhiều sợi lông đuôi bò cứng ngắn, cắt cho bằng để chải răng. Hiện nay, hậu duệ của ông có cơ sở sản xuất bàn chải răng rất lớn.
Đến năm 1857, bằng sáng chế bàn chải đánh răng đầu tiên tại Mỹ được cấp cho ông H.N. Wadsworth.
Năm 1938, Công ty Dupont dùng sợi nylon làm bàn chải thay thế cho lông súc vật. Lý do là lông thú vật ngày một khan hiếm, lại sợ nhiễm trùng mất vệ sinh. Tuy nhiên, lông heo rừng vẫn còn được nhiều người ưa thích vì là vật hiếm và thiên nhiên.
Đến năm 1939, Thụy Sỹ bắt đầu sản xuất bàn chải đánh răng chạy bằng điện. Năm 1961, công ty General Electric tung ra thị trường bàn chải điện không dây. Tiến bộ hơn nữa là bàn chải xoay tròn Interplak được bán cho công chúng vào năm 1987. Bàn chải điện rất tiện lợi cho người có khó khăn trong vận dụng hai bàn tay, chẳng hạn bị viêm xương khớp, hậu quả tai biến não.
Năm 2003, một cuộc thăm dò dư luận cho hay bàn chải đánh răng được coi là nhu yếu phẩm số một trong đời sống mọi người, cần thiết hơn xe hơi, máy vi tính, điện thoại di động.
Việc đánh răng thường thường chỉ loại bỏ được 70-80% chất bẩn, phần còn lại phải nhờ tới chỉ nha khoa. Chỉ tơ thay thế cho việc dùng tăm cổ truyền dễ gây tác động xấu cho nướu. Đôi khi nhà sản xuất tẩm vào chỉ chất kháng sinh, fluoride, chất gây thơm.
Kem đánh răng
Theo các nhà khảo cổ, kem đánh răng đã được dùng ở Ấn Độ và Trung Hoa từ 500 năm trước Công nguyên. Trước kia người xưa tán vụn xương động vật, vỏ trứng, vỏ hến để chà răng. Sau đó, bột đánh răng được sản xuất từ cỏ cây, than với vài chất có mùi thơm.
Mãi tới năm 1824, một nha sĩ tên là Peabody mới nghĩ ra việc cho thêm xà phòng vào kem đánh răng để có nhiều bọt. Ngày nay, xà phòng được thay thế bằng chất Sodium Lauryl Sulfate, và Sodium Ricinoleate.
Năm 1850, John Harris thêm đá vôi vào kem.
Năm 1892, bác sĩ Washington Sheffield ở Connecticut (Mỹ) nghĩ ra việc cho kem đánh răng vào một ống có thể gấp gọn vào được. Trước đó, kem được chứa trong lọ sứ, dưới dạng nhão, bột hoặc đóng thành từng cục dẹt nhỏ tròn tròn, bọc trong giấy bóng kính.
Đến thập niên 1960, hãng Colgate bắt đầu pha fluoride vào kem để duy trì men răng tốt.
(Theo Sức Khoẻ & Đời Sống)

Tại sao quả cà thái ra để lâu lại bị đen?

Trong quả cà có một chất gọi là tannin, cũng gọi là nhu chất. Tannin có một đặc tính là ở trong không khí sẽ biến thành vật chất màu đen.
Cho nên sau khi thái cà ra, chất tannin ở trong đó tiếp xúc với không khí, thời gian dài sẽ bị ôxy hoá biến thành màu đen.
Trong tất cả những vật chất có chất tannin đều có hiện tượng như thế cả, ví dụ như quả lê, quả táo sau khi bổ ra cũng biến thành màu tím đen.
(Theo sách 10 vạn câu hỏi vì sao)

Nghe Phật dạy về tình yêu

(Dân trí) - Này người trẻ, bạn có biết Phật dạy như thế nào về tình yêu? Tôi đã may mắn tham dự một buổi pháp thoại của Thiền sư Nhất Hạnh về tình yêu: mối quan hệ giữa yêu thương và hiểu biết, tình yêu từ bi hỉ xả, tình yêu và tình dục. Ông gọi đó là “yêu thương theo phương pháp Phật dạy”.

Trước khi bắt đầu bài thuyết pháp của mình tại Tổ Đình Trung Hậu - Vĩnh Phúc, Thiền sư Nhất Hạnh đã mời các bạn trẻ ngồi lên trên, để có thể nghe thật rõ. Ông muốn nói về tình yêu, bản chất tình yêu nhìn từ góc độ Phật giáo.

Miệng mỉm cười, ông đã kể một câu chuyện tình yêu, giản dị thôi nhưng hàm ý sâu sắc: Có một chàng trai ở vùng California - Mỹ, rất đẹp trai, học giỏi, tốt nghiệp một trường đại học nổi tiếng, có nhiều bạn gái xinh đẹp. Chàng trai sống với mẹ, người mẹ biết trong các cô gái ngưỡng mộ con mình, có một cô gái không xinh nhất, cô không trắng, không cao lắm nhưng được chàng trai đặc biệt chú ý. Ngạc nhiên, người mẹ hỏi con trai: Vì sao con lại thích cô gái ấy, cô ta đâu có gì nổi bật?Cô ấy hiểu con - chàng trai trả lời đơn giản.

Chàng trai học ngành công nghệ thông tin nhưng rất hay làm thơ. Mỗi lần chàng đọc thơ, cô gái nọ lắng nghe rất chăm chú và có những nhận xét sâu sắc, trong khi những cô gái xinh đẹp kia không để ý gì đến. Chàng trai đã chọn người yêu không vì vẻ đẹp bề ngoài, mà bởi sự lắng nghe và thấu hiểu.

“Đạo Phật cũng dạy như vậy, có hiểu mới có thương, tình yêu phải làm bằng sự hiểu biết”, Thiền sư kết luận.

Muốn thương phải hiểu

Trong đạo Phật, từ bi gắn liền với trí tuệ. Không hiểu, không thể thương yêu sâu sắc. Không hiểu, không thể thương yêu đích thực. Hiểu chính là nền tảng của tình thương yêu.

Mỗi người có những nỗi niềm, những khổ đau, bức xúc riêng, nếu không hiểu, sẽ không thương mà giận hờn, trách móc. Không hiểu, tình thương của mình sẽ làm người khác ngột ngạt, khổ đau. Không hiểu, sẽ làm người mình thương đau khổ suốt đời.

Nhân danh tình thương, người ta làm khổ nhau. Chuyện đó vẫn thưòng xảy ra.

Được hiểu và được thương vốn là một nhu cầu muôn đời của con người. Nhiều người thường cảm thấy không ai hiểu mình. Họ “đói” thương, “đói” hiểu. Họ thơ thẩn, lang thang trong cuộc đời tìm người hiểu mình, thương mình. Gặp được người hiểu mình, thương mình là may mắn lớn của cuộc đời. Tình yêu nảy nở, lớn lên từ đó.

Vậy nên, “có hiểu mới có thương” là nguyên tắc chọn người yêu, chọn chồng/vợ theo quan điểm Phật giáo. Dù người ta có đẹp, có giàu đến đâu nhưng không hiểu mình sẽ làm mình khổ suốt đời. Hôn nhân có thể mở ra những con đường hoa hồng, có thể mở ra cánh cửa tù ngục. Chọn vợ, chọn chồng là một sự mạo hiểm lớn. Hãy cẩn thận, nếu không muốn chọn án tù chung thân cho cuộc đời mình.

Chọn người hiểu và thương mình - hãy nhớ - đó là nguyên tắc tìm người tri kỷ trong cuộc đời.

Bốn yếu tố của tình yêu: Từ bi hỉ xả

Phật dạy về tình yêu rất sâu sắc. Tình yêu phải hội tụ đủ bốn yếu tố: từ, bi, hỉ, xả.

“Từ” là khả năng hiến tặng hạnh phúc cho người mình yêu. Yêu thương không phải là vấn đề hưởng thụ, yêu thương là hiến tặng. Tình thương mà không đem đến hạnh phúc cho người yêu không phải là tình thương đích thực. Yêu mà làm khổ nhau không phải tình yêu. Có những người yêu nhau, ngày nào cũng khổ, đó là tình yêu hệ luỵ, chỉ mang tới sự khổ đau. Yêu thương ai đó thực sự, nghĩa là làm cho người ta hạnh phúc, mỗi ngày.

“Bi” là khả năng người ta lấy cái khổ ra khỏi mình. Mình đã khổ, người ta làm cho thêm khổ, đó không thể là tình yêu đích thực. Còn gì cho nhau nếu chỉ có khổ đau tuyệt vọng. Người yêu mình phải là người biết sẻ chia, biết xoa dịu, làm vơi bớt nỗi khổ của mình trong cuộc đời.

Như vậy, “từ bi” theo Phật dạy là khả năng đem lại hạnh phúc cho nhau. Yêu thương ai là phải làm cho người ta bớt khổ. Nếu không, chỉ là đam mê, say đắm nhất thời, không phải là tình yêu thương đích thực. “Từ bi” trong tình yêu không phải tự dưng mà có. Phải học, phải “tu tập”. Cần nhiều thời gian, để quan sát, để lắng nghe, để thấu hiểu những nỗi khổ niềm đau của người yêu, để giúp người ta vượt qua, tháo gỡ, bớt khổ đau, thêm hạnh phúc.

“Hỉ” là niềm vui, tình yêu chân thật phải làm cho cả hai đều vui. Dấu ấn của tình yêu đích thực là niềm vui. Càng yêu, càng vui, niềm vui lớn, cả gia đình cùng hạnh phúc. Cuộc nhân duyên như thế là thành công.

“Xả” là không phân biệt, kì thị trong tình yêu. Mình yêu ai, hạnh phúc của người ta là của mình, khó khăn của người ta là của mình, khổ đau của người ta là của mình. Không thể nói đây là vấn đề của em/ anh, em/ anh ráng chịu. Khi yêu, hai người không phải là hai thực thể riêng biệt nữa, hạnh phúc khổ đau không còn là vấn đề cá nhân. Tất cả những gì mình phải làm coi đó là vấn đề của hai người, chuyển hoá nỗi khổ đau, làm lớn thêm hạnh phúc.

Này người trẻ, bạn nghĩ về tình yêu của mình đi, có “từ bi hỉ xả không”? Bạn hãy can đảm tự hỏi mình rằng “Người yêu ta có hiểu niềm vui nỗi khổ của ta không? Có quan tâm đến an vui hàng ngày của ta không? Người ấy có nâng đỡ ta trên con đường sự nghiệp không?...” Và tự hỏi lại mình, liệu bạn có đang thành thực với tình yêu của mình?! Liệu tình yêu của bạn đã đủ “từ bi hỉ xả”?!

Tình dục và tình yêu

Phật giáo quan niệm như thế nào về tình dục trong tình yêu? Không phải ngẫu nhiên mà vị thiền sư tôi được hạnh ngộ bắt đầu vấn đề này bằng cách bàn về “thân tâm” trong truyền thống văn hoá Á Đông.

Trong truyền thống văn hoá ta, thân với tâm là “nhất như”, tức là nếu ta không tôn kính thân thể người yêu thì cũng không tôn kính được tâm hồn người ấy. Yêu nhau là giữ gìn cho nhau, kính trọng nhau. Khi sự rẻ rúng xem thường xảy ra thì tình yêu đích thực không còn.

Thân thể ta cũng như tâm hồn ta. Có những nỗi niềm sâu kín trong tâm hồn, chúng ta chỉ chia sẻ với người tri kỉ. Thân thể ta cũng vậy, có những vùng thiêng liêng và riêng tư, ta không muốn ai chạm tới, ngoài người ta yêu, ta tin, ta muốn sống trọn đời, trọn kiếp.

Trong tình yêu lớn và cao quý, bất cứ lời nói và cử chỉ nào cũng phải biểu lộ sự tương kính. Người con trai phải tôn trọng người con gái mình yêu, cả thân thể lẫn tâm hồn. Người con gái biết giữ gìn, cũng là biết làm người yêu thêm tương kính, nuôi dưỡng hạnh phúc lâu dài về sau.

Bạn muốn thương yêu theo phương pháp Phật dạy chăng? Hãy hiểu, thương và tương kính người yêu của mình, cũng chính là đem hạnh phúc đến cho người và cho mình vậy!

Nguyệt thực và Nhật thực toàn phần

Nguyệt thực toàn phần (Total Lunar Eclipse) ngày 28/8/2007. Nguyệt thực toàn phần xảy ra khi Trái đất đi vào giữa Mặt trăng và Mặt trời và che khuất hoàn toàn Mặt trăng. Xem tại đây.

Nhật thực toàn phần (Total Solar Eclipse) ngày 29/3/2006 tại Thổ Nhĩ Kỳ. Nhật thực toàn phần là một hiện tượng rất hiếm gặp của tự nhiên, trong thời gian xảy ra nhật thực toàn phần, trên bầu trời tối mờ có thể thấy rõ đĩa tối của mặt trăng lồng trong mặt trời. Song hiện tượng này chỉ quan sát được khi trời quang đãng. Xem tại đây.

Thêm đây nữa nhé.